Các xáo trộn nơi ở từ nguyên nhân sinh học

426 lượt xem

Các xáo trộn nơi ở từ nguyên nhân sinh học
(DQC) Sóng độc hại trong thiên nhiên tương đối nhiều. Dòng nước lộ thiên và nhất là những mạch nước ngầm, các mỏ khoáng sản và đặc biệt những chất phóng xạ, những đầm lầy cũ, những xáo trộn địa từ trường, các thân cây bị đốn và  chôn vùi trong lòng đất, những hang động tự nhiên, những lỗ hổng, những quặng kim loại… Tất cả những gì chuyển động cũng như tất cả những vết nứt, tất cả những gì tạo thành một lỗ trũng, làm thay đổi thế điện, có sự mất cân đối, sự phân ly cần phải được loại bỏ ra khỏi địa điểm xây dựng.

        Sóng độc hại phát sinh từ các hoạt động trước đây của con người: Các trường hợp thường gặp là các đường hầm dưới lòng đất, đường xe điện ngầm, các hang, các máng nước, các giếng cũ đã được lấp hay chưa, các hầm mỏ cũ, các nghĩa địa bỏ hoang, các nơi được san lấp, các hố rác cũ.

Mức độ ion hoá mạnh được phát sinh từ các hầm hốc kín, không có sự lưu chuyển không khí. Phải kể đến các chất lỏng đang hoạt động: ống dẫn nước (nước sạch hay nước thải), các hồ chứa, các bể nước…

CÁC VỈA NƯỚC NGẦM

Là nguyên nhân tạo xáo trộn thường gặp nhất trong các vùng do nguồn gốc địa chất. Dưới mặt đất có nhiều dòng chảy mà chiều sâu từ vài mét đến nhiều chục mét. Lực ma sát của các phân tử nước tạo ra một sự ion hoá tìm thấy trên bề mặt của đất. Tác dụng của các dòng nước ngầm tạo ra là:

        – Biến đổi địa từ trường

        – Gia tăng sức mạnh của trường sóng cực ngắn.

        – Làm ngưng trệ bức xạ hồng ngoại theo chiều dài

        – Xáo trộn vi địa chấn (microsismique)

        – Gia tăng điện tích dương trong không khí và trong đất.

Chính sự ion hoá dương tính này tạo sức hút đặc biệt với sấm sét. Nhà Cảm xạ phát hiện sự hiện diện của nước ngầm bằng đũa và con lắc. Một người nhạy cảm sẽ dễ dàng nhận thức được khi đứng trên một mạch nước mà không cần bất cứ dụng cụ nào để khuyếch đại cảm xúc.

Sự ion hoá trên mặt đất dâng lên theo chiều thẳng đứng và gần như giống nhau nơi mỗi tầng của ngôi nhà dù cao thế nào cũng vậy. Sự ion hoá này trong lòng đất được biết qua các vết thấm ướt trên tường. Nó tạo ra một hiện tượng điện thẩm thấu (électro-osmose). Tính phân cực của các vùng ẩm trên tường bị đảo ngược, đầu dương nằm bên dưới. Do vậy, sự phóng điện phát sinh tại một vùng như thế sẽ kéo theo sấm sét.

Sự giao tiếp giữa 2 hay nhiều mạch nước ngầm tạo thành một vùng mang sóng điện âm lục. Sóng này làm tăng sức mạnh của các giao điểm địa từ trường và là một mối nguy hiểm lớn cho sức khoẻ (thường là ung thư). Tất nhiên, sự kết hợp của nhiều hiện tượng có tần số rung động thấp sẽ làm tăng thêm mức độ độc hại. Mức độ độc hại của nước ngầm thay đổi tuỳ theo sự định hướng và chất lượng của nó. Hướng Tây – Đông là mạnh nhất. Nước đã qua sử dụng hoạt động trong hướng này là đặc biệt độc hại. Nước trong sinh hoạt nằm theo hướng Nam – Bắc là tốt.

Trong địa hạt chăn nuôi, súc vật quanh năm sống trên những khu vực bị xáo trộn bởi một mạch nước ngầm có một khí lực thấp hơn thú vật sống ở một vùng trung hoà. Mức độ rung động sóng trên một vùng như vậy chỉ vào khoảng 3.500 đến 4.500 đơn vị Bovis, nghĩa là quá ít.

Ở vùng quê, ta biết rằng thật tai hại nếu ngủ trên mạch nước ngầm vì chúng sẽ tạo ra đủ loại bệnh trong số này phải kể đến chứng thấp khớp. Ung thư thường trùng hợp với sự hiện diện của các ngọn suối hay các đường gãy hướng Đông/Tây. Uể oải khi thức dậy, muốn ngủ nướng thường là những dấu hiệu chỉ rằng đang có một dòng nước ngầm chạy dưới ngôi nhà.

Giải pháp tốt nhất là nên tránh xa các khu vực ấy. Tuy nhiên ta có thể sinh sống nếu biết cách hoá giải các sóng độc hại nhờ sự giúp đỡ của một nhà Cảm xạ Địa sinh học có khả năng.

CÁC KẼ NỨT KHÔ

Là hậu quả của các chuyển động dưới lòng đất thường do các trận động đất hay các tai biến lớn. Mọi hoạt động của các lớp của vỏ trái đất có thể tạo ra một vết gãy ngang các tầng địa chất và đặt hai lớp địa chất có đặc tính khác nhau thành một lớp mới. Những vật liệu hiện diện trong lớp mới này do vậy mang những cực khác nhau và tạo một tác động gọi là “pile”. Sự phóng điện ổn định tiêu biểu bằng sự ion hoá lại chuyển dịch theo chiều thẳng đứng và luôn được mang điện âm lục. Sự phóng điện này đưa lên mặt đất dưới hình thức một dãy rất hẹp chiều ngang không vượt quá 50cm.

Tính độc hại của nó cũng giống như nước thay đổi tuỳ theo sự định hướng, tuỳ theo chiều cao của các lớp địa chất khác nhau ở đối diện nhau và tuỳ theo các loại khoáng sản.

Người ta phát hiện các vết gãy địa sinh học với các dụng cụ nhằm phát hiện các vỉa nước: đũa Michel và con lắc. Máy đo địa từ trường (géomagnétomètre) chỉ rõ sự biến thiên của trường điện từ trên đường gãy. Các đường gãy hay cả những vết nứt bình thường trong lòng đất chứa các đá phóng xạ là những khu vực có ưu thế cho sự phát xạ radon.

Sự quân bình khí lực của cư dân sống trong một cao ốc được xây dựng trên một đường gãy cũng bị tổn hại. Nếu có vỉa nước ngầm cắt ngang kẽ nứt này có thể làm gia tăng mức độc hại đáng kể tại các giao điểm của các mạng địa từ trường. Cần phải thoát khỏi các vùng như thế. Vô ích để tìm giải pháp hóa giải vì có nguy cơ tạo ra tốn kém mà ít hiệu quả. Chớ xem sức khoẻ như một trò đùa.

CÁC HANG HÓC

Đó là các lỗ rỗng trong lòng đất. Các túi này chứa các nguyên tử bị ion hoá. Ta có thể xác định vị trí một dấu hiệu của hang theo chiều thẳng đứng, giống như trên mặt nước hay đường gãy, từ  đó phát ra bức xạ alpha và bêta. Một số sai sót trong kiến trúc, giống như các khoảng không để thông hơi nhưng nó lại tạo ra các ảnh hưởng tương tự như các hang hốc tự nhiên. Ở trường hợp này, giải pháp cần thiết là tạo ra một sự thông thoáng bằng cách khoét 2 khoảng không ở hai đầu để làm cửa.

Càng ngày các bác sĩ càng đặt nghi vấn về sự xơ cứng của các bộ phận trong cơ thể với việc sống một thời gian dài trên một hang hốc ngầm . Người ta dùng ion kế tìm ra rằng phía trên hang ngầm hoàn toàn không có ion âm trong không khí. Do vậy phương thuốc tốt nhất là phải đo được mật độ ion và có thiết bị hỗ trợ thích hợp.

 SAN LẤP NỀN

Ngày nay, không ít trường hợp người ta xây dựng nguyên cả một thị trấn trên những khu san lấp ở bất cứ nơi nào. Nơi đó là các phế phẩm và các vật liệu bị phá huỷ, các rác thải công cộng, các nghĩa địa cũ, toàn thể tạo thành một thứ pha trộn vật liệu không tương hợp, xung khắc nhau. Chúng sẽ tạo ra các hậu quả xấu kéo theo các nguy hại cho người sống trong khu vực. Chớ nên xây cất và sống trong những vùng không hoà hợp với thiên nhiên trong môi trường nhân tạo.

CÁC KHỐI ĐÁ

Nhiều số liệu thống kê đã nêu lên mối liên hệ giữa tính chất của lòng đất đối với bệnh ung thư. Cát vôi, thạch cao, cát kết, một số đá kết tinh nguyên thuỷ và đất bồi khác nhau gần đây tạo thành những vùng ít nguy hiểm. Ngược lại, hậu quả rất nặng đối với các đô thị xây dựng trên đất sét, sét vôi, phấn phốt phát, pirit sắt, đá phiến hay đất có than đá và đất chứa quặng sắt.

Biết bao bất hạnh đối với con người có thể được tránh khỏi, biết bao tiết kiệm đối với quỹ an sinh xã hội nếu các khái niệm này được con người lưu tâm đến…

MỨC ĐỘ CỦA SỰ ĐỘC HẠI

Bảng tóm lược sau đây được thiết lập trên vô số nhân chứng giúp ta biết thứ tự phát triển cùng tầm quan trọng của tính độc hại:

Tính độc hại không đáng kể.

  • Vùng trung hoà

Tính độc hại thấp.

  • Độ rộng của tia Hartmann và Curry bình thường (21 cm và 50 cm)

        – Tính độc hại trung bình

  • Giao điểm 2 dãy Hartmann
  • Giao điểm 2 dãy Curry
  • Giao điểm 1 dãy Hartman với 1 Curry.
  • Sự chồng lên nhau của 1 dãy Hartman hay 1 dãy Curry với 1 vỉa nước ngầm

        – Tính độc hại trung bình đến khá mạnh

  • Giao điểm 1 dãy Hartmann hay Curry với 1 mạch nước ngầm.

        – Tính độc hại khá mạnh đến mạnh

  • Giao điểm 2 mạch nước ngầm.

        – Tính độc hại mạnh đến rất mạnh

  • Giao điểm 2 tia bức xạ Hartmann hay 2 tia Curry hay 1 tia Hartmann với 1 tia Curry chồng lên một mạch nước.

Tính độc hại tối đa

  • Sự chồng lên nhau của nhiều giao điểm: giao điểm Hartmann hay giao điểm Curry và giao điểm các mạch nước.

        Lưu ý :

  • Tính độc hại của một vũng nước không quan trọng bằng tính độc hại của một mạch nước. Nó tương đương với tính độc hại của 1 bức xạ Hartmann hay Curry.
  • 3 hay 4 mạch nước cắt nhau tại cùng một điểm thì tính độc hại sẽ rất cao. Trường hợp này rất hiếm nhưng vẫn có xảy ra.
  • Giao điểm của 2 mạch nước xếp chồng lên với 1 giao điểm Hartmann với 1 giao điểm Curry tạo thành 1 điểm menhir với năng lượng mạnh.

Tất cả những vùng này sẽ biểu lộ cho nhà Cảm xạ và nhà Khoa học biết về sự thiếu đồng bộ của bức xạ trong khu vực qua các thông số:

–     Cường độ phóng xạ, điện từ tính, ion hoá được phát hiện bằng các dụng cụ đo lường hay bằng cảm xạ.

–     Có sự hiện diện của một thành phần đặc biệt, chỉ được phát hiện trong trường hợp này bằng cảm xạ mà thôi.

Nhưng đa số phần mặt của địa cầu được tạo thành từ những khu vực có mật độ đồng bộ của bức xạ thiên nhiên nói lên tình trạng trung hoà của khu vực.

Tất cả các thông tin này chỉ nhắm vào các bức xạ thiên nhiên. Ngày nay phải kể thêm các bức xạ nhân tạo của nền văn minh kỹ thuật cũng như các tác hại tinh vi hơn do các hình dạng, các màu sắc và âm thanh của các vật thể quanh ta.

 CÁC YẾU TỐ ĐỊA VẬT LÝ, SINH HỌC CÓ ƯU THẾ

a. Chất lượng không khí

* Thành phần hoá chất và vi khuẩn

Không khí là một hỗn hợp chất khí. Các thành phần cấu tạo bao gồm: đạm (nitơ), oxy, argon, dioxyde carbon, hydro và khí hiếm rất ổn định về thể tích. Thêm vào hỗn hợp này là một số lượng hơi nước và vô số bụi li ti. Tất cả các nơi làm việc hay cư trú dù ở thành thị hay thôn quê đều chịu sự ô nhiễm rất nặng vì sự hiện diện  không thể tránh khỏi và không thay đổi của các bụi khí.

* Ion hoá

Không khí vừa sống động vừa phức tạp và là nguyên nhân của nhiều hiện tượng. Nguyên tử của nhiều thành phần khí khác nhau luôn chuyển động theo các nhịp điệu chính xác. Mỗi nguyên tử có thể mất đi hoặc nhận thêm một électron. Trường hợp thứ nhất nó trở thành ion dương, trường hợp thứ 2 thành ion âm. Hiện tượng tự nhiên này bị xáo trộn vị trí. Hơn nữa, sự quá tải tích cực mà nó tạo ra kéo theo một sự ô nhiễm dai dẳng.

* Áp suất từng phần của ôxy

Cần nhấn mạnh là ngay trong các thành phố bị ô nhiễm nặng, áp suất từng phần chỉ thay đổi rất nhỏ. Ngay cả trong các phòng sưởi không được điều chỉnh tốt cũng vậy. Trái lại  các tác động ống khói và các vùng ô nhiễm cho ta có cảm  giác thiếu không khí và thiếu thoải mái.

* Nhiệt độ

Người ta phân biệt 5 loại: khô, ẩm, nhiệt bức xạ, nóng điểm sương (nhiệt độ mà một chất lỏng khi được đun sôi), nóng sốt theo thân nhiệt. Nhiệt độ giữa mặt đất và trần nhà cũng là một tham số đáng được lưu tâm trong một căn phòng.

* Phép đo độ ẩm

Đây là độ ẩm liên hệ đến không khí. Độ ẩm thay đổi tuỳ thuộc vào loại nhiệt độ. Euphorimétrie có nghĩa là nghiên cứu sự sảng khoái tức khắc trong một căn phòng, được căn cứ trên nhiệt độ bao quanh và trên tỷ lệ phần trăm độ ẩm.

* Các chuyển động của không khí

Chúng ảnh hưởng trên nhiệt độ hiện tại và trên cảm nhận về sự thích nghi với khí hậu.

* Áp suất không khí

Do hiệu ứng được gọi là ống thông hơi, áp suất không khí cũng tạo ra những thay đổi trong cảm giác về mức độ thích nghi như cảm nhận thời tiết ngột ngạt hay sảng khoái.

 b. Vấn đề các trường

Trường điện khí quyển giúp ta thích nghi với các thay đổi của thời tiết. Ảnh hưởng của nó tác động đặc biệt trên các sóng do não phát ra. Các trường tĩnh điện nhân tạo có ảnh hưởng trên sức khoẻ và các tế bào. Các trường điện từ xoay chiều hiện hữu với một mức độ không đáng kể trong môi trường tự nhiên do đó con người hiện nay không có khả năng nắm bắt việc chúng xuyên qua các tế bào trong khi chỉ cần xuất hiện một trường điện xoay chiều yếu là đã có khả năng gây độc hại.

Trường từ tính một chiều tác động trên nhịp độ sinh học và trên sự chuyển hoá của các bộ phận sống từ liều lượng yếu đến trung bình và mạnh mà mức độ có thể nhận thấy rất khác biệt tùy cá nhân. Cũng tương tự đối với trường điện, cần tránh các trường từ tính xoay chiều, dù thật yếu, tế bào của chúng ta cũng không kham nổi trong môi trường này.

Đối với khoa Cảm xạ Địa Sinh học (phong thủy), sự nhiễu loạn điện từ trường trong nhà là do tác hại của trường điện đến trước rồi mới đến các xáo trộn của từ trường liên hệ. Kết luận là các dây dẫn điện trong nhà nếu được thay bằng dây cáp cốt thép và âm vào tường sẽ không mảy may gây nguy hại cho sức khoẻ. Dù sao, trong một số trường hợp, phải lưu tâm đến từ trường và ngày nay không ít nhà địa sinh học khuyến cáo chúng ta việc dùng dây cáp cốt thép để ngăn chặn tất cả các trường.

Cần đặc biệt thận trọng trong các ngôi nhà nằm cạnh các đường điện cao thế hay các máy phát.

Các bức xạ

Các bức xạ mà con người gặp phải thường có các loại:

* Bức xạ điện từ

Khi có sự phối hợp của một sóng có đặc tính dao động với một photon, hoặc một dạng năng lượng, bức xạ điện từ sẽ xuất hiện có tần số và độ dài của sóng bằng tần số và bước sóng của sóng phối hợp, năng lượng của photon gắn liền với tần số. Tuỳ theo chiều dài của sóng ta phân chia các bức xạ này thành nhiều loại:

–        Các sóng ngắn: dùng trong hoạt động vô tuyến và trị bệnh.

–        Sóng vi-ba: trong đệ nhị thế chiến, sóng vi-ba được  dùng trong hệ thống radar và hiện nay được dùng trong các thiết bị gia đình và công nghiệp.

–        Tia hồng ngoại: được dùng trong công nghiệp và trong  điều trị bệnh (liệu pháp thấu nhiệt= diathermie)

–        Quang phổ thấy được tức quang phổ của ánh sáng mặt trời.

–        Tia tử ngoại (UV) dùng trong chữa bệnh và thẩm mỹ.

–        Tia X dùng trong kỹ nghệ và y học.

–        Tia gamma là 1 trong các hình thức động năng được phóng thích từ sự phóng xạ tự nhiên hay nhân tạo.

        * Bức xạ cực nhỏ (hạt)

–        Electron = là những electron của tia bêta tự nhiên hay nhân tạo.

–        Hạt alpha được tạo bằng một nhân héli.

–        Proton

–        Neutron

Các nguồn phát chủ yếu của neutron là những động cơ phản lực và các gia tốc lớn. Tia bức xạ vũ trụ đặc biệt giàu neutron nhanh.

Cường độ của các tia bức xạ đôi khi vượt qua ngưỡng cửa báo động trong các nơi ở và thay vì hành động phối hợp, chúng tác động ngược với nhịp sinh học và sự chuyển hoá của con người.

 Linh tinh

* Âm thanh

Sức nặng và khối lượng trong xây dựng có khả năng làm yếu các tiếng  ồn và các rung động cơ học từ bên ngoài. Nhưng cấu trúc và dáng vẻ của ngôi nhà có thể tạo nên một sự gia tăng tiếng động bên trong. Nhà địa sinh học tìm cách tránh và làm giảm đi các nguy hại này. Việc chống lại các tiếng động cũng cần lưu tâm đến các xáo trộn do chính các vật liệu được dùng để ngăn tiếng ồn tạo ra. Tính chất của tiếng động còn tuỳ thuộc vào đặc tính của âm nhạc khuếch tán.

* Màu sắc

Sự xen kẽ ánh sáng – bóng tối tạo nhịp điệu cho đời sống của chúng ta. Ánh sáng đóng vai trò chủ yếu trong sự cân bằng sức khoẻ của ta. Không gian xám xịt có thể tạo tinh thần bất an. Ngược lại thời tiết ấm áp làm nảy sinh sự lạc quan. Thiếu ánh sáng, không thấy được màu sắc vì thật ra màu sắc kết hợp gián tiếp với cách cảm nhận, hành động, lối sống của ta. Nó có một ảnh hưởng quyết định đến cách xử sự của chúng ta. Chúng cũng tác động trên sức khoẻ và sự quân bình đối với các phản ứng sinh học của chúng ta. Màu đỏ chẳng hạn gia tăng nhịp đập của tim. Từ đầu đến chân, từ sáng đến tối, ta ngụp lặn trong màu sắc mặc dù sở thích có khác nhau giữa chúng ta, nhưng nên có sự lựa chọn thích hợp về màu sắc cho nơi ở cũng như y phục.

* Hình thể

Hình thể học là một mắt xích căn bản trong sự nghiên cứu của nhà Địa Sinh học vì theo lý thuyết, các vật thể đều có bức xạ sóng và các hình thể đặc biệt (hình chóp nhọn, hình cầu, kim tự tháp…) thì có bức xạ sóng khá mạnh. Cường độ phát sóng từ các hình thể sẽ bị tiêu hủy đi so với lực mà con người tác động thường ngày. Các tế bào của chúng ta cũng rung động và rất nhạy cảm với cường độ sóng độc hại, trái lại sóng tốt có thể tạo nhiều lợi ích. Do vậy cần phải luôn luôn lưu tâm và điều chỉnh môi trường xung quanh vì thế giới hữu hình được bọc trong một không gian sóng hình thể mà mọi hình thể đều có một vòng cung  năng lượng bức xạ bao quanh và tất cả các bức xạ này đều bất lợi.

Chuyên gia Cảm xạ Địa sinh học Dư Quang Châu