Nguyên nhân gây ra sự mất năng lượng của nơi ở

550 lượt xem

Nguyên nhân gây ra sự mất năng lượng của nơi ở
(DQC) Các tia vũ trụ do Hess khám phá vào năm 1911, được cấu tạo bởi các hạt khác nhau: neutron, électron nhanh, photon mà năng lượng của tia vũ trụ có thể vượt trội năng lượng của các tia phóng xạ. Bức xạ vũ trụ tượng trưng cho bức xạ ban đầu đến từ không gian giữa các vì sao. Do bức xạ vũ trụ mang một năng lượng rất lớn nên nó tạo ra nhiều hiệu quả: tạo ra một bức xạ thứ cấp bởi sự tương tác hạt nhân lúc vào khí quyển, nó xác định sự ion hoá của không khí là do sự tách électron ra khỏi nguyên tử, nó chịu một sự biến đổi mạnh trong lúc chạm nhân nguyên tử và mất năng lượng nguyên thủy của nó. 

1. CÁC TIA VŨ TRỤ 

Phần lớn các thành phần của các tia vũ trụ này bị hấp thụ bởi khí quyển. Nguồn gốc của các tia vũ trụ này hiện chưa được xác nhận vì có nhiều lý thuyết khác nhau:- Đấy có phải là tàn dư của big bang nguyên thủy?- Có phải chúng đến từ các ngôi sao, mặt trời?- Có phải là các hạt được tăng tốc bởi các điện từ trường trong không gian? 

Các nhà khoa học vẫn còn hy vọng sẽ có thể giải đáp được. Điều xác thực duy nhất là: Các tia vũ trụ xuyên thấu tất cả những gì có sự sống. Người ta có thể qui trách nhiệm cho nó về các đột biến ở động và thực vật cũng như một số chứng ung thư nhưng cũng không có gì rõ ràng và chắc chắn. Dù thế nào đi nữa, các biến đổi chu kỳ của tia vũ trụ có một số tác động mà con người bắt đầu biết được. Có thể nêu ra: 

– Tác động của những cơn bão từ của mặt trời đối với tính chất vật lý của địa cầu và trên con người- Ảnh hưởng của mặt trăng trên sự sinh trưởng của thực vật và của con người- Tác động của từ trường trái đất trên cơ thể- Ảnh hưởng của thủy triều trên con người sống ven biển, ven sông.- Ảnh hưởng của các mùa trong năm trong việc xuất hiện một số bệnh tật. 

Các nhịp độ vô hình này là nền tảng của đời sống, dù chúng ta chưa nhận thức hết được. 

Điện từ trường của cơ thể khoẻ mạnh của con người phải cân bằng với bức xạ vũ trụ (thiên khí). 

Ngày nay ta biết rằng con người lệ thuộc vào môi trường vật chất bao quanh và được sáp nhập hoàn toàn trong vũ trụ, tượng trưng cho một hình thức sinh sản thu nhỏ của vũ trụ. Đó là điều được thể hiện trong parabole nổi tiếng của Kibalion: Những gì ở trên cao cũng giống như những gì ở dưới thấp. 

2. CÁC SÓNG ĐIỆN TỪ DƯỚI ĐẤT 

“Những cái có ở đây sẽ có ở mọi nơi, những cái không có ở đây sẽ không có ở bất cứ nơi nào khác”(Ngạn ngữ cổ Ấn Độ) 

Trái đất sống, chuyển động, gầm thét ngay trong lòng đất. Đất là một vật hay biến chuyển thất thường và không thích bị lãng quên. Một vật thể đôi khi có thể nổi cơn giận chết người để tự nhắc nhở chúng ta rằng: Con người không thể tồn tại nếu thiếu nó và bất cứ lúc nào nó cũng có thể đưa ta trở về con số không. Cái thế giới dưới lòng đất ấy ta biết rất ít vì chưa có ai nói rõ về nó. Chúng ta thích tìm hiểu các hành tinh xa xôi nhất mà thường khi lại dốt đặc về các điều xảy ra ngay dưới bàn chân của mình. Từ hàng triệu năm nay, loại năng lượng huyền diệu và đáng gờm ấy luôn sôi sục, làm thay đổi liên tục vận mệnh con người và vật thể, đó là năng lượng của dòng điện dưới đất. 

Ở Zurich, 3 phụ nữ, không biết nhau, đã trọ trong khoảng thời gian 3 tháng vào những thời điểm khác nhau, trong cùng một căn phòng và ngủ trên cùng một chiếc giường. Cuối cùng cả 3 đều chết vì tự vận. 

Một người chăn cừu ở Rodez quyết định xây một trại chăn nuôi với nhiều trang thiết bị hiện đại. Sau đó ông ta chứng kiến cả đàn gia súc ngã lăn ra chết một cách bí mật. Hai năm sau ông bị khánh tận và đầy ắp nợ nần. 

Trên một xa lộ cạnh Francfort, trong vòng 5 năm, 750 chiếc xe bị trượt đường và va chạm với xe chạy ngược chiều, cắm đầu vào lề ngay cùng một điểm. Cứ mỗi lần lập biên bản thì người điều tra lại bị bối rối vì hiện tượng trùng lặp. 

Trong một vùng ở Đức, nhiều lần sét đánh vào cùng một chỗ : đó là nơi giao nhau của các mạch nước ngầm. Hoàn toàn ngẫu nhiên? 

Cuối năm 2001, báo chí Việt Nam xôn xao về 1 căn nhà ở Hưng Yên chỉ trong 1 tháng có 14 người sống trong nhà này phải đi bệnh viện về những bệnh không xác định được lý do. Và các bác sĩ, các nhà chức trách lên tiếng kêu gọi các nhà sinh học, địa chất đến khảo sát. Định mệnh hay bất hạnh? 

Tất cả các bí ẩn này đều có một giải trình hợp lý: sự hiện diện của các sóng điện từ dưới đất bị nhiễu loạn. Chúng có thể tạo ra những ảnh hưởng bất lợi trên con người, động vật và thực vật. (tại trung tâm Cảm xạ có máy đo từ trường đất có thể thể phát hiện có hiện diện của nó). 

Tuy nhiên không phải luôn luôn như thế: có những người trái lại, các sóng điện từ dưới đất này là một phương tiện hồi sinh đặc biệt đối với họ. 

Nhưng vẫn còn một điều bất lợi là chỉ có kinh nghiệm thực tiễn mới giúp ta biết được là các sóng điện từ dưới đất này có thích hợp với ta hay không? 

Đối với những người may mắn, sống một thời gian lâu hay mau trên một vùng đất có thể phục hồi sức khoẻ. Họ cảm thấy khoẻ khoắn, thoải mái, bớt căng thẳng. Các tế bào năng động, các giác quan nhạy bén và những ai có khả năng thấu thị sẽ phát triển tài năng của mình. 

Những hiệu quả khác của sóng điện từ dưới lòng đất là: nó có thể làm tăng thân nhiệt từ từ và giúp con người chịu đựng tốt hơn với cái giá lạnh, nó kích thích sự bài tiết các độc tố và phục hồi chức năng sinh lý bị yếu kém. Nếu một dòng nước ngầm giao tiếp với một sóng điện từ dưới đất, nó có thể đạt được một số quyền năng mà người bình dân gọi là “kỳ diệu”. Điều này giải thích sự hiện hữu của các địa linh nơi có người hành hương để trị bệnh nằm rải rác trên thế giới không ngừng làm bối rối các nhà khoa học chính thống (Lourdres). 

Annick Teurquetil, 20 tuổi, không đi lại được. Cô đến Lourdes bằng xe lăn, dùng nước suối ở Bernadette rửa mặt và ngay chiều hôm ấy, cô đi được. Trước sự kiện đó, các bác sĩ lúng túng, số đông quần chúng không khỏi kinh ngạc. 

Trường hợp của Annick Teurquetil đã gây ra một sự chú ý về sự kiện mà không một ai nghĩ đến việc tranh cãi tính xác thực về việc khỏi bệnh và sự kỳ diệu ở hang động nổi tiếng khác ở Massabielle. Nếu sự nổi tiếng của suối Lourdes là vạn năng thì có một số ít người biết rằng vùng đất này đã nổi tiếng về khả năng trị bệnh huyền diệu từ trước khi có sự hiện hình của Đức Mẹ Đồng Trinh ở Bernadette Soubirous. Ngay từ thế kỷ 14 ở Bétharram, cách đó khoảng 15 km, những người hành hương đã đến cầu nguyện ở tượng Notre-Dame. Những tác phẩm trong thế kỷ 17 đã nói nhiều về 80 trường hợp khỏi bệnh không thể giải thích được từ năm 1617 đến 1646 mà trong số đó có 6 trường hợp bại liệt và 11 người mù được chữa khỏi. Cũng vào năm 1616, cây thánh giá trên đồi ở Bétharram bị đổ xuống vì một cơn bão đã có thể tự đứng thẳng lại trong vầng hào quang trước sự ngạc nhiên của 5 người nông dân. 

Ở Bétharram cũng như ở Lourdes có sự hiện diện của những dòng nước và nhiều hang ngầm hoặc lộ thiên: một con sông ngầm và một mạch suối ở Bétharram, khe suối ở Pau và một suối khác ở Lourdes. 

Có nên tìm sự giải thích trong các sóng điện từ dưới đất về các hiện tượng mà các nhà khoa học chính thống không có khả năng làm sáng tỏ? Dầu sao mọi cái xảy ra giống như ở những nơi này là cái tụ điện với các sức mạnh địa chất có thể ion hoá nước để làm chúng mạnh hơn. Những người thật nhạy cảm đều có thể tiếp xúc với các bức xạ. Điều này giải thích về cách nhìn của các vị thánh, các trường hợp lành bệnh từ các con suối ở Lourdes hay Bétharram: bệnh nhân có niềm tin liên hệ đến vũ trụ và nhận một cú sốc rung động thực sự. Cú sốc này có thể tạo ra một sự hoạt hoá vượt mức sẽ đặc biệt hiệu nghiệm cho các trường hợp rối loạn thần kinh. Cũng cần ghi nhận về các trường hợp lành bệnh của các người vô thần và các người không tin đạo ở suối Lourdes. 

Trong thực tế, ta có thể cảm nhận sự hiện hữu của một vùng địa cực. Đi chân không trên một khoảnh đất tiếp xúc với một sóng điện từ đất, ta sẽ cảm thấy các nhoi nhói nhẹ chạy dọc lên 2 chân. Một số người nhạy cảm cho rằng bị mỏi chân, đau lưng, và hơi run, nóng ở cột sống, cảm giác tương tự khi lòng bàn tay chạm trên đất. Giải thích như thế nào về các cảm giác nhoi nhói này? Chỉ giản dị là cơ thể con người bắt và hấp thụ tĩnh điện phát xuất từ sóng điện từ dưới đất. Nếu người thực nghiệm là một nhà Cảm xạ học, con lắc sẽ dao động càng lúc càng mạnh đến khi lắc quay theo chiều kim đồng hồ, còn đũa thì chập lại một cách bất thần. 

Các sóng điện từ dưới đất này là gì? Chúng từ đâu đến? Cần nhớ rằng: Lòng đất không phải chỉ gồm có những chất lỏng như ta nghĩ cách nay 20 năm mà còn có những chất đậm đặc và lực hấp dẫn sẽ thể hiện theo chiều ngược lại với sự chuyển động của trái đất. Nhiệt lượng mà các nhà bác học phát hiện được dưới vỏ địa cầu được sản sinh từ sự quay vòng ngược lại. Sự mất cân bằng áp suất là nguyên nhân của các trận động đất và núi lửa. 

Sự quân bình của thế giới chúng ta nằm trên hai lực đối nghịch: lực nội tại mà sự chuyển động xoay tròn từ đông sang tây đi theo chiều xoay của trái đất quanh mặt trời và lực của trái đất mà sự chuyển động theo chiều của các hành tinh, từ tây sang đông. Các lực này tác động trên vỏ trái đất và cường độ thay đổi tuỳ theo mật độ và bản chất của các lớp địa chất và tạo ra một năng lượng, năng lượng này chính là các sóng điện từ dưới đất (dòng địa từ trường). Các dòng địa từ trường này dễ dàng len lỏi trong các vùng ẩm ướt nơi các tầng gãy, bể và mấp mô của lòng đất dưới các hồ và biển cả. 

Sự hiện hữu của các dòng địa từ trường này không phải là những khám phá gần đây. Người Trung Hoa cổ xưa đã tìm ra và gọi là long mạch. Không phải là không có lý. Các dòng địa từ trường này tạo thành một hệ thống tĩnh mạch thực sự của địa cầu. Ảnh hưởng có ích hay có hại của chúng được thể hiện trong những trường địa cực, những yếu tố điện từ trường mà qua con lắc có thể dễ dàng phát hiện. 

Dĩ nhiên, các dòng địa từ trường không giới hạn riêng ở một nơi nào mà thấy được ở mọi nơi trên hành tinh. Phần đông, một số chạy dọc theo các đường phân chia bởi các vĩ tuyến. Số khác ngược lại, thẳng góc với các đường trên, xích gần hơn với các kinh tuyến. Hướng chính chạy từ Đông sang Tây qua trục trung tâm của dãy Hy Mã Lạp Sơn kéo dài qua vùng Caucase, Alpes và Pyrénées. Một hướng khác từ Mỹ, qua dãy núi Andes theo hướng Bắc Nam. Các dòng địa từ trường uốn lượn dưới các khối núi. Nhưng cũng có những dòng địa từ trường mang đi qua các sông ngòi, ví dụ thung lũng sông Ganges và Indus, Danube, Rhin và sông Nil. Một số lớn các đền và nơi thờ phượng rải rác trên bờ những con sông này. Cuối cùng một số khác chạy dọc theo những chỗ rạn nứt của núi lửa ở vỏ trái đất. 

Dù sao đi nữa, mọi nơi trên thế giới này đều có sự hiện hữu của một dòng địa từ trường mà con lắc của nhà Cảm xạ học nếu đặt tại nơi đó sẽ chuyển động mạnh hơn các nơi khác, các chức năng sinh lý của con người và động vật được tăng cường và thực vật tỏ ra tươi tốt hơn. Điều đáng lưu tâm: cuộc sống dường như được chuyển tiếp dễ dàng hơn và tuổi thọ cao hơn. Người ta nói đến tuổi thọ ở dãy núi Andes là các bô lão thọ gần trăm tuổi trong Thung Lũng Hạnh Phúc ở Tây Tạng, và đội hợp xướng các người lớn tuổi nổi tiếng ở Caucase… 

Mặt khác, nên lưu ý rằng trên các hướng chính của các dòng địa từ trường này cũng phát triển nhiều nền văn minh tiêu biểu như là Mayas ở Nam Mỹ, Ai Cập… Điều này có nghĩa là nếu vai trò bí ẩn của những dòng địa từ trường là thật sự quan trọng thì các thủ đô hay các trung tâm văn hoá cũng là giao điểm của những dòng địa từ trường. 

3. MẠNG LƯỚI TOÀN CẦU HAY CHẤN SONG CỦA B.S HARTMANN 

“Bệnh tật là vấn đề của nơi ở”Mạng lưới địa từ trường toàn cầu là một lưới mắt cáo các rung động địa cực tương đối chính xác. Có thể phải gọi chúng là kiểu phân vách địa vũ trụ vì chiều cao vô tận. 

Mạng lưới này gồm các ô chữ nhật mà chiều dài theo hướng Đông Tây từ trường và chiều rộng theo hướng Bắc Nam từ trường nếu không bị biến dạng bởi một bất thường của lòng đất. 

Kích thước của các hình chữ nhật này thay đổi nhưng một ô không bị xáo trộn đo được 2,5 m dài x 2 m ngang. Các đường này có chiều dày 21 cm tạo thành những bức tường vô hình cao theo chiều thẳng đứng với bề mặt của địa cầu bằng cách vượt qua tất cả các chướng ngại vật chất, thế đất, công thự vì đây là một dạng năng lượng, không phải vật chất. 

Sự cấu tạo của thế đất, sự hiện diện của dòng nước, các phay địa chất, các dây cáp, các khối từ trường quan trọng, các bức xạ hay mọi dị thường có thể tạo một “déshomogénéisation” sự biến chất của khu vực. Do vậy, các đường bị lệch và các ô chữ nhật có thể thay đổi theo chiều dài từ 2 đến 3,5 m và chiều rộng thay đổi từ 1,8 m đến 2,5 m. Do đó, theo nguyên tắc, tại một vùng trung tính, mạng lưới toàn cầu là một mạng lưới chặt chẽ giữa các mắt, trừ trường hợp nếu có những sóng nguy hại khác hiện ra theo chiều thẳng đứng. Nhưng các đường địa từ trường của mạng Hartmann giao nhau, xác định các nút địa sinh bệnh, tính chung, cứ 4 điểm cho mỗi hình chữ nhật. Theo chiều thẳng đứng của các nút địa sinh bệnh này xuất hiện một sóng độc hại vừa gây rối loạn vừa mang tính chất lâu dài. Người Trung Hoa cổ gọi chúng là ”các lối đi của ma quỷ”. 

4. MẠNG LƯỚI CHÉO HAY MẠNG LƯỚI CỦA BS CURRY 

Nằm nghiêng so với mạng lưới Hartmann, các hướng theo chiều tổng quát Tây Bắc/Đông Nam và Đông Bắc/Tây Nam từ trường. Khoảng cách của các tia Curry biến đổi rất lạ lùng: đôi khi chỉ 4m hay ít hơn; nhưng đôi khi lên đến 16m, hoặc hơn nữa. Do đó các hình chữ nhật được hình thành có thể gần giống hình vuông hoặc ngược lại kéo dài đáng kể. Biểu thị mạng lưới Curry bằng một sơ đồ rất khó, vì ngoài các hướng hay thay đổi người ta gán cho nó một chức danh khá mơ hồ: mạng lưới chéo. 

Mạng lưới Hartmann có một tần số rung động cao hơn mạng lưới Curry. Ngược lại mạng Curry có tầm quan trọng hơn vì ở các giao điểm của mạng lưới Curry tác nhân gây bệnh mạnh hơn và phạm vi hoạt động dễ giới hạn hơn đối với tác động tinh thần. Điều này thật rõ ràng đối với các nhà Cảm xạ học là người trực tiếp nhận các tác động trong việc khảo cứu cảm xúc. Nhưng tác động của các rung động Curry rất biến đổi và có thể thay đổi bởi các nhân tố bên ngoài. Theo bác sĩ Curry, nếu ở trên một vùng nước ngầm hay trên một phay địa chất, các tác động gây bệnh của mạng lưới Curry sẽ tai hại hơn là của mạng lưới Hartmann trong những điều kiện tương tự. Nếu tại các nơi gặp nhau của các lưới có cùng tính đối cực cộng thêm một hiện tượng khác cũng có cùng tính này thì sự gặp nhau có thể tạo thành một khu vực bệnh thoái hoá như khớp, ung thư, rối loạn thần kinh tuỳ theo thế đất nơi người bệnh sinh sống. 

Trường hợp 1: một người “dương” lưu lại lâu, ban đêm chẳng hạn, trên một giao điểm “dương”, các rối loạn như viêm khớp, trầm uất, muốn tự tử sẽ xảy ra.- Trường hợp 2: một người “âm” ngụ trên một giao điểm “âm” sẽ xảy ra: mất ngủ, mệt mỏi, gia tăng tiến trình thoái hoá và ung thư. 

Nếu ta thêm vào đó một thời gian “âm”, một căn bệnh “âm”, thức ăn nhiều “âm”, sự tích tụ này sẽ mau chóng dẫn đến tai họa. Trong môi trường xây dựng, ngoài các mạng lưới ban đầu Hartmann và Curry còn xuất hiện thêm một mạng lưới nữa là mạng lưới tường do sự phản chiếu của các mạng lưới này trên tường và trên các vách. Mạng lưới này có cường độ yếu vì chỉ là sản phẩm dẫn suất chớ không phải là một nguồn trực tiếp. Trong lúc đó các bức xạ Hartmann và Curry với cường độ được củng cố bởi các sàn bê tông. Nó không chỉ thẳng đứng mà cả nằm ngang, tạo thành các khối lập phương và hình hộp chữ nhật xếp chồng lên nhau. 

Có những mạng lưới khác có liên hệ đến yếu tố tôn giáo. Các kiến trúc sư thời xưa không lạ gì về điều này và biết cách làm cho chúng hội nhập trong đội hợp xướng tại các thánh đường, nhà thờ… 

Một nơi có mạng lưới địa từ trường chạy qua dù trong nhà hay ngoài trời đều xảy ra các hiện tượng nghiêm trọng và khác thường. Ở những nơi đó ta sẽ gặp những người, thú vật và cây cỏ mắc phải các cơn đau lạ lùng, những bệnh quái lạ, kinh niên hay mãn tính. 

Viện Sinh Học Lausanne, nơi đặc biệt quan tâm đến các đề tài về Cảm xạ học đã đúc kết được một bộ hồ sơ đáng được mọi người suy ngẫm: Đó là 24.000 con chuột đựng trong các lồng sắt đặt trên đường cái trên một vùng trung tính rồi trên một giao điểm các sóng. Mỗi lần thả ra, đoàn chuột trốn chạy ngay không chần chừ khỏi khu vực xáo trộn để chạy về phía vùng trung tính. Một số chuột cùng loại, cùng độ tuổi, cùng trọng lượng được đặt trên 1 giao điểm. Tất cả đều mất đi 20% trọng lượng chỉ trong vòng vài tuần. Một số khác đặt vào vùng sinh bệnh thì có hiện tượng gia tăng 30% potassium so với chuột để trong vùng trung tính. 

Nếu loài gặm nhấm trốn chạy đột ngột khỏi các cánh đồng bị rối loạn thì một số loài vật khác lại tìm đến. Đó là trường hợp của kiến và mèo. Ta có thể phát hiện các dòng điện từ trường dưới lòng đất bằng cách quan sát tìm các nơi mèo thường lui tới hoặc có sự hiện diện đông đảo của đàn kiến. 

Trên đường địa từ trường, ong cho mật tăng gấp 3 lần nhưng sẽ gục ngã nhanh chóng sau đó. Còn thỏ thì rụng lông và cử động chậm chạp. Bò bị sẩy thai và chết dần. Ngựa lồng lên khi đi qua vùng địa sinh bệnh giống như bị châm điện vậy. 

Rau cải cũng không thoát khỏi ảnh hưởng của dòng địa từ trường. Nhờ sự khôn ngoan, người nông dân biết rõ rằng dưa chuột, củ hành, bắp không phát triển nổi trên một số vùng rối loạn. 

Thú vật, cây cỏ, con người…đều bị biến đổi bởi các động lực trong lòng đất. Nhà Cảm xạ học biết rõ rằng khó mà ngủ yên giấc trong một chiếc giường đặt trên một vùng địa từ trường xấu. Nếu ngủ đầu hướng về phía Nam, giấc ngủ đầy ác mộng. Lúc trời mưa và ẩm ướt, các kẽ nứt ở vỏ trái đất hoạt động hết công suất và ảnh hưởng rung động xấu gia tăng cường độ. Con người hay bị thấp khớp và hen suyễn. Thử máu phát hiện một số thay đổi về độ lắng trùng hợp với các xáo trộn sinh học, với sự hiện diện của một dòng nước hay một bức xạ địa từ trường… 

Phản ứng của da nơi một đối tượng được đo bằng điện trở kế. Các thay đổi của sự chịu đựng này liên hệ đến nơi ở: điểm địa sinh bệnh hay vùng trung hoà và trực tiếp liên hệ đến hệ thần kinh thực vật. Người ta cũng nhận ra rằng sự thay đổi về cảm xúc và quân bình của hệ đối giao cảm cũng tuỳ thuộc vào môi trường bao quanh. Điều này không những được các bác sĩ Hartmann, Curry, Lotz mà cả một số nhà khoa học khác cũng đều xác nhận. 

Ở Thuỵ Sĩ, nhà Cảm xạ Rambaudde Marbourg đã phát hiện trong 3 ngôi làng, nhiều người bị tử vong giống như bị ngộ độc bởi một lượng potassium quá cao. Tất cả đều sống trên một vùng địa sinh bệnh. 

Từ các thử nghiệm này có thể giúp ta nhận ra mối liên hệ rất rõ ràng giữa sự hiện diện của những khu vực nguy hại với một bệnh trạng. 

Trong một thí nghiệm thực tập của Giáo sư Bachler, người ta cho một học sinh ngồi trên một điểm địa sinh bệnh trong giờ học thì sự tập trung tinh thần diễn ra rất khó khăn, căng thẳng, sự phát triển bị khựng lại. Thay đổi chỗ ngồi, điểm số sinh hoạt của em gia tăng rõ rệt. 

Ở Đức trong nhiều thí nghiệm khác nhau, người ta nhận ra rằng: 

– Trong trại chăn nuôi nếu các chuồng đặt ở vùng đất có sóng độc hại, nhu cầu về thực phẩm tăng 66% mà bò lại cho sữa ít hơn, thường mắc bệnh và sẩy thai nhiều hơn.- Nếu tổ ong nằm trên một vùng có hại, vào mùa thu, các đàn ong kiệt sức, cả đàn trốn chạy và đi lang thang, dường như mất phương hướng.- Ở thôn quê nơi nào thường bị sét đánh, chắc chắn sẽ bắt gặp giao điểm của hai dòng nước ngầm.- Cây cối nằm trên giao điểm của hai dòng địa cực sẽ còi cọc và thường bị sét đánh. 

Tóm lại tất cả động-thực vật đều thường xuyên chịu ảnh hưởng của môi trường bao quanh, nhất là năng lượng bức xạ của trái đất và vũ trụ chưa kể đến các trường điện từ. Chúng đã thích nghi với sự phân cực, nhịp điệu, sự biến động từ khi xuất hiện trên địa cầu và đã tồn tại đến ngày nay, dù sự thích nghi này diễn ra rất chậm. Nhưng vào đầu thế kỷ 21 này, con người nghĩ rằng mình có thể làm mọi điều mình thích. Họ đã biến nơi ở mà không đếm xỉa đến các qui luật tự nhiên và hậu quả là họ đã tạo ra các bệnh của thời đại văn minh: ung thư, suyễn, dị ứng, mất ngủ, stress. Sức khoẻ, sự an nguy của chúng ta tuỳ thuộc vào chỗ ở nơi ta sinh sống, ngủ và lao động. Nhiều triệu chứng do sóng có hại của nơi ở và đặc biệt về các bệnh tim mạch, ung thư, đặc biệt ở phương Tây, các loại bệnh này dẫn 3/5 người bệnh đến cái chết và tiến độ này đi theo một đường cong luỹ tiến. 

5. CÁC NƠI TẬP TRUNG NĂNG LƯỢNG ĐỊA CỰC (POINTS MENHIRS) 

Menhir nghĩa là đài đá dài, dựng đứng Tất cả những tảng đá riêng lẻ được thấy hiện nay đều nằm trên ít nhất là 6 tia bức xạ địa từ trường. 2 vỉa nước (đôi khi 3, hoặc 4) 2 dãy Hartmann 2 dãy Curry. 

Người ta gọi là điểm Menhir cho tất cả mọi nơi có sự tập trung năng lượng địa từ trường hoặc ít ra phải tương tự như nơi giao nhau của 6 tia bức xạ trên. Các dãy Carnac không theo qui luật này. Nhiệm vụ của nó có thể khác hơn. 

Đối với các tảng đá nằm rải rác, có 2 điều cần lưu ý: 

– Trước tiên, phải xem rằng các tảng đá này xuất hiện để bảo vệ hay làm lành mạnh hoá khu đất. Qua kiểm tra bằng cảm xạ, ta nhận thấy sự tác hại của các tia địa từ trường bị triệt tiêu trong khoảng 20m đến 30m quanh tảng đá… Khu vực trung hoà tương đối rộng rãi này được dùng làm địa điểm hội thảo, họp mặt, hành lễ. Một số các nhà văn lãng mạn cho rằng, các đạo sĩ tựa vào tảng đá sẽ nhận được sức mạnh huyền bí từ lòng đất, số khác cho rằng tảng đá là một tụ điện tuyệt vời. 

– Năng lượng rung động tập trung trên tảng đá, toả ra quanh phạm vi của tảng đá. Một phần toả sáng quanh tảng đá và phần còn lại thoát lên không trung..Tảng đá có tác dụng khuyếch đại các bức xạ địa từ trường.Nó dẫn mọi cực âm của trái đất ra ngoài chu vi và tạo sự lan truyền yếu tố âm, do đó yếu tố dương của vũ trụ được tích tụ lại (luật Maxwell). Các tảng đá là những kim châm cứu của trái đất, do vậy nó có vai trò chữa trị. Ở Anh Quốc, nhiều tảng đá nằm rải rác là những địa điểm cầu tự. 

+ Bàn đá (Dolmen) 

Bàn đá làm nhiệm vụ bảo vệ đối cực âm bằng cách phân tán năng lượng dương. Các hiện tượng này một mặt làm tăng sức mạnh cho các bức xạ địa từ trường ở chân tảng đá, mặt khác làm cho chúng xoay quanh bàn đá. Các đường vô hình này mà năng lượng chạy bên trong là những vùng kém sức chịu đựng giúp cho một chùm điện từ có cường độ mạnh chạy qua. Máy đo điện từ kiểu cộng hưởng proton và nhà Cảm xạ phát hiện sự biến đổi năng lượng quanh các tảng đá lớn. Các “long mạch” có thể điều khiển hoặc là gia tăng hay phân tán: đó là điểm “địa châm cứu”.Con người thời đồ đá mới biết rằng cuộc sống tuỳ thuộc vào môi trường chung quanh và cố gắng duy trì tối đa sức mạnh ấy. Còn trong thế kỷ 20, có một vài ngôi nhà được coi như có tử khí bởi vì các trường hợp tử vong (ung thư, đột tử, tự tử) gia tăng đến mức báo động. Những ngôi nhà này thường ở trên những vân đá hoa cương có chứa uranium với những mật độ thất thường nhưng đủ để gây ra bệnh tật vì tính phóng xạ ở đó là quan trọng. Các dãy Carnac cũng tìm thấy trong vùng có bức xạ rất mạnh vì đó là vùng có đá hoa cương với các phay rời nhưng có sự hiện diện của uranium trong các tảng đá. Thật rõ ràng rằng: những tảng đá lớn không bao giờ được đặt một cách tình cờ. Sự xuất hiện của nó là do những bức xạ và những rối loạn của vỏ quả đất. 

Đài đá dài tượng trưng cho sự gắn bó thiêng liêng giữa trời và đất, giữa con người và thần linh. Nó thường kéo theo sấm sét. Hàng năm, nhiều tảng đá dài bị sét đánh và mai một đi. Nó giữ vai trò bảo vệ như một trụ chống sét. Con người cần phải rút tỉa các bài học của tổ tiên bằng cách biết sống hoà hợp với thiên nhiên, xem mình như là một phần của cái tổng thể bao la ấy. Do đó cần duy trì 3 nguyên tắc: 

 – Tránh ở lâu trên một điểm có tảng đá menhir vì nơi đó năng lượng rất mạnh.- Có thể dựng một tảng đá dài để tẩy khí độc và bảo vệ cho một khu đất, một căn nhà.- Nguyên tắc menhir có thể dùng trong xây dựng. 

Sau các nhà Nhân văn học trong thế kỷ 16 và các nhà Đạo học Trung Hoa, các nhà Địa Sinh học ngày nay có một cái nhìn tổng hợp về một số sự việc có liên quan và công nhận rằng con người không thể tách khỏi hơi thở của vũ trụ. Y học có nhiệm vụ duy trì sức khoẻ chớ không chỉ để chữa bệnh. Nhiệm vụ của khoa kiến trúc còn là nghiên cứu vật liệu, tạo không gian thông thoáng cho một căn nhà đầy năng lượng để tham gia vào các mối liên hệ giữa con người với môi trường xung quanh chớ không chỉ xây dựng các bức tường khéo léo và tô điểm cho thêm rực rỡ. Tương tự như một bác sĩ, nhà châm cứu giúp điều hoà chùm năng lượng và đề phòng các suy thoái của cơ thể. Nhằm tạo sự hài hoà ấy, người Đông Phương đã đưa ra một hệ thống các mối tương quan kết hợp giữa các yếu tố với nhau. Năm yếu tố được kể tới là: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Hệ thống này được gọi chung là Phong thuỷ (Gió và Nước). 

Đây không phải để chỉ trực tiếp 5 chất liệu này mà chính xác hơn là để chỉ năng lượng mà các yếu tố ấy tạo ra theo chu kỳ: Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc lại sinh Hoả… Các yếu tố này được tạo ra theo một chu kỳ phát sinh, bị kiềm chế theo một chu kỳ huỷ diệt, có tác động lẫn nhau trong các chu kỳ một cách đều đặn. 5 yếu tố này được kết hợp với các vật liệu, các sự vật, các ý tưởng, cảm giác theo thuyết Ngũ hành sinh khắc và ngày càng được hoàn thiện với các sự kiện mới nhất về địa chất, kiến trúc, cảnh quan, môi trường để dùng vào các khảo cứu đương đại . Y học Trung Hoa đã biết sử dụng có hiệu quả từ 12.000 năm trước thể thức trị bệnh trên con người. Đó là phải củng cố, phục hồi năng lượng bị suy yếu (chu kỳ phát sinh) hay tiết chế năng lượng quá mạnh (chu kỳ huỷ diệt) bằng cách tác động trên kinh mạch, dùng các kim châm, ngải cứu, xoa bóp, hay dùng tia laser như hiện nay giúp kích thích hoặc phân tán các năng lượng rối loạn. 

Trên thực tế tất cả năng lượng địa vũ trụ, đất đai, khoáng sản đều chuyển động liên tục trong sự thay đổi thường xuyên theo chu kỳ. Thế giới của chúng rất sinh động và sự nhận thức về các hoạt động này phải xuất phát từ nơi ở của chúng ta. Do vậy nhà ở phải dựa trên một sự cân bằng địa vũ trụ. 

Các đền thờ thường được xây dựng tại các vùng xa xôi hẻo lánh, tại sao vậy? Thực tế, địa điểm không phải được lựa chọn theo sự tập trung của tín đồ như ngày nay người ta thường làm, mà là tuỳ thuộc vào sự tập trung năng lượng trên khu vực. Các đền thờ thường nằm theo hướng Đông – Tây nơi phân cách giữa hai dòng nước chảy song song. Đa số trường hợp, các tường bên của nhà thờ nằm ngay trên các vỉa nước. Đôi khi, chân tường nằm trên các dãy Hartmann hay Curry mà các dãy này nằm song song hoặc thẳng góc với những dòng nước ngầm kế cận. Tóm lại, nếu các bức tường được xây dựng trên các vỉa nước hoặc trên các dãy Hartmann, Curry thì năng lượng tập trung về bên trên bởi sự có mặt các khối đá lớn menhir. 

Phần bên trong của giáo đường tổng quát chỉ mang các bức xạ Hartmann mà sự độc hại được giảm bớt nhiều bởi tác động của các bức tường. Địa điểm do vậy thuận lợi cho việc tham thiền và tĩnh tâm. Các điện thờ trước năm 1700 thường được xây dựng tại nơi giao tiếp giữa các lưới địa từ trường với cường độ mạnh: nhà thờ Chartres, Saint Jacques de Compostelle. Các trụ cột của các nhà thờ cũng có một ảnh hưởng “Menhir” và kéo theo các tia bức xạ Curry. Tất cả được diễn ra giống như các trụ cột và các bức tường điều khiển mạng lưới Curry, tụ họp và bài trừ năng lượng địa từ trường nhằm có được một nơi trung tính dành cho nơi cầu nguyện. 

“Chúng ta sống trong một trường điện từ khổng lồ phát sinh từ các trao đổi thường xuyên giữa trái đất và vũ trụ; con người, động vật và cây cỏ, nghĩa là mọi vật thể sống là một máy điện từ trường, cơ quan thụ cảm, một tụ điện, một máy biến thế và một máy phát nhạy cảm với sự hoà hợp của vũ trụ”. 

Thực thể sống, trái đất thở theo phương cách của nó. Trong không gian, nó trao đổi liên tục với năng lượng rung động bằng một chuyển động đi và đến, lên và xuống mà chắc chắn con người không nhận thức được nhưng bị ảnh hưởng khi nằm trên cùng quỹ đạo. 

Sóng đi xuống được con lắc phát hiện nhưng tính chất sóng rung động của nó nhất thời không thể đo được. Nó luôn luôn có lợi cho sinh vật sống trong khu vực bị ảnh hưởng.Sóng đi lên cũng được con lắc phát hiện và tính chất sóng rung động được đo bằng chỉ số Bovis. Tùy địa điểm và thời điểm khác nhau có 7 mức độ rung động chia ra làm 2 nhóm: 

Ba mức độ có hoạt động sinh bệnh:– Dưới 1.000 đơn vị Bovis: đất tử khí.- Từ 1.000 – 3.000 đơn vị Bovis: đất sinh bệnh nặng- Từ 3.000 – 5.000 đơn vị Bovis: đất làm hao hụt năng lượng, sinh mệt mỏi thường xuyên. 

Bốn mức độ cao:– Trên 6.500 đơn vị  trung tính- Trên 12.500 đơn vị  quân bình khí lực tuyệt hảo- Trên 14.000 đơn vị  Thuận lợi cho sức khoẻ- Trên 18.000 đơn vị  được phát hiện trong các nhà thờ, các nơi thờ cúng cổ và gần các bia đá. 

Hơn nữa, con người có thể điều chỉnh các hiện tượng này bằng các bức tranh khác nhau, các hình thức khác (đèn ngủ để đầu giường), các mặt nạ hay các bức tượng nhỏ. Không những các vật dụng này tự nó gây hại mà nếu đặt trên một nút Hartmann và đặc biệt theo hướng bức xạ Đông – Tây của nút này nó có thể phát sinh ra một sự khơi dậy địa từ trường…Nhà cảm xạ học có thể vô hiệu hoá hay biến sóng độc hại thành sóng sinh khí bằng sóng tư tưởng của ông ta. Nếu là do người tạo ra thì phải loại bỏ hoặc để một vật bảo vệ: muối hột, dầu mè hoặc thạch anh, một ống dây đồng, một tranh vẽ hay một khuôn kim loại. Vật này sẽ làm giảm thiểu hay triệt tiêu mối nguy hại của sóng độc hại hay đẩy nó xa đi từ 1m đến 5m. 

Chuyên gia Cảm xạ  Dư Quang Châu(còn tiếp)