Các dụng cụ trong Cảm xạ Địa sinh học

299 lượt xem

Các dụng cụ trong Cảm xạ Địa sinh học
(DQC) Các nhà dò tìm mạch nước và những người nhạy cảm có thể phát hiện ra nhiều loại đồ vật khác nhau nhờ đũa và con lắc.

Năm 1967, giới khoa học thực hiện một thí nghiệm nhằm kiểm chứng tính nhạy cảm từ tính trên con người (Utah Research Laboratory). Người ta cho 15 sinh viên hoàn toàn chưa biết gì về Cảm xạ học, tay cầm đũa đi chầm chậm trên một khu đất. Trước đó người ta bí mật chôn một số thanh kim loại trên ấy. Mỗi lần nhận thấy đũa dao động thì cậu sinh viên này đánh dấu bằng việc cắm một thanh gỗ. Cuối buổi thực nghiệm, những người khảo cứu trang bị máy đo từ tính bằng proton kiểm xem có sự liên hệ nào giữa thanh gỗ làm dấu với thanh kim loại được chôn trước đây. Mỗi lần kiểm tra đều thấy có sự trùng lấp.

Như vậy không phải là chỉ có mạch nước ngầm tác động lên đũa mà chính là sự biến đổi của từ trường. Các nhà khoa học, trong số này có Giáo sư Yves Rocard, nguyên Giám đốc Phòng Thí nghiệm Vật lý thuộc Trường Đại học Sư phạm Paris còn xác nhận cả sự hiện hữu sinh học từ tính của con người, điều này làm sáng tỏ các bí ẩn của đũa, quả lắc tìm nguồn nước. Họ còn định vị các điểm nhạy cảm trên cơ thể con người là đầu các ngón tay, ngón chân, ót, háng, đầu gối, xoang, cùi chỏ, cung chân mày… Các công trình trên cũng được Frolich xác nhận vào năm 1990.

Giáo sư Rocard còn mở rộng phạm vi khảo cứu với con lắc và nhận thấy rằng bất kỳ sự mất cân bằng từ tính nào xuất hiện đều làm cho con lắc dao động.

Tại sao mỗi năm hàng ngàn cá voi mắc cạn ? Tự tử tập thể? Không hẳn thế. Thực ra, nếu chỉ một con mắc cạn, các khảo cứu cho thấy hoặc nó bị bệnh do một loại virus hoặc môi trường bị ô nhiễm. Nếu là một nhóm cá heo thì thông thường chứng minh rằng la bàn bên trong của nó bị rối loạn.

Giống như bồ câu, cá voi có phản ứng với địa từ trường mà nó ghi âm được và giữ trong trí nhớ để tái sử dụng vào các lần di chuyển sau giống như có một bản đồ từ tính của đáy biển vậy. Nhưng giống như một thẻ xanh có thể bị mất đi “từ tính”, một cơn bão từ mạnh có thể làm xáo trộn các dữ liệu có sẵn của cá voi và làm chúng mất phương hướng. Điều giải thích này cũng giống như khám phá (đối với thú vật) một hệ thống radar sinh học hoạt động bằng cách phát ra một sóng âm hưởng mà tiếng dội giúp cho con vật đo lường được khoảng cách.

Loài ong có thể phát hiện trường từ tính và hướng chính xác tùy theo hướng của các cực của hành tinh chúng ta. Nhà nghiên cứu Mickael Walker đã khám phá ra được một cấu trúc chưa được biết đến: đó là một hệ thống tinh thể từ tính (cristaux de magnétite) nằm trong bụng con ong.

Các nhà Vật lý Thiên văn biết rằng các lỗ đen xuất hiện đều đặn và mãnh liệt trên mặt trời sẽ tạo ra những cơn bão từ khổng lồ. Tác động của chúng rất nhiều nhưng con người thì không nhận thấy. Các liên lạc đều bị xáo trộn: sóng ngắn hay vệ tinh đều bị nhiễu loạn. Ngày 11/7/1979 trạm không gian Skylab rơi xuống đất: hoạt động bất thường của mặt trời tạo nên sự gia tăng tỉ trọng của các tầng khí quyển làm biến đổi hướng đi của trạm.

Hai nhà tin học người Mỹ đã chứng minh rằng các cơn bão từ này đã làm sai lệch tinh thể các thành phần điện tử của các máy vi tính và tạo ra các bất thường trong vận hành mà đến lúc đó vẫn chưa ai giải thích nổi. Một số người còn gán cho cơn bão từ thổi vào địa cầu chính là thủ phạm của một vụ tai nạn máy bay Airbus 320.

Các nhà sản xuất ô tô đã tìm cách bảo vệ các thành phần điện tử của các hệ thống bơm hay thắng không trượt để chúng không bị lệch đi khi đến gần các đường điện cao thế, các máy phát thanh và phát hình, một đài radar hay bất cứ khu vực nào chứa nhiều đài phát sóng điện từ.

Con người là một antenne thật sự, bắt được các thay đổi của trường điện từ và có thể làm mạnh thêm nó bằng cách dùng những vật dụng thích hợp. Ta đã để mất đi khả năng sử dụng giác quan thứ 6 từ rất lâu và chỉ một số ít người còn giữ được điều này.    

Mặt khác mỗi tế bào của cơ thể là một phòng thí nghiệm hóa học nhỏ. Hoạt tính năng động ở mỗi tế bào phát triển thường xuyên. Sức khoẻ và sự quân bình tùy thuộc vào sự chuyển hóa, nghĩa là quyền sở hữu mà các tế bào có được để biến đổi thức ăn thành hóa chất. Vật chất là năng lượng và khi nói đến năng lượng là nói đến sóng tức bức xạ. Hoạt động của tế bào tạo ra một trường điện từ bên trong và ngoài cơ thể. Nhờ cái hào quang sinh học này mà nhà Cảm xạ  nhận được sự hoạt động tốt hay xấu từ các bộ phận của một người. Con lắc dùng để khuếch đại năng lượng tạo được trong tế bào. Nhờ cách này ta có thể phát hiện rất chính xác một bộ phận bị bệnh.

Nhà Cảm xạ có thể phát hiện và đo lường các sóng hay các rung động của người và vật thể nhờ vào các tác động của nó trên bộ não của con người. Vấn đề này ngay sau đó có nhiều nghi vấn :

          – Bản chất của các rung động được phát hiện từ các vật

thử nghiệm như thế nào?

          – Phản ứng mà chúng tạo ra trên các bộ phận có sự khác biệt giữa bộ phận này với bộ phận khác và thậm chí để định lượng chúng ra sao?

          –  Làm sao giải thích được hiện tượng cảm xạ từ xa nghĩa là phát hiện được từ xa?

Câu hỏi này rất khó trả lời. Thật ra việc phát hiện, dù chỉ là việc tìm mạch nước ngầm, hay các quặng mỏ, dầu khí, việc tìm kiếm một người hay mô tả trạng thái sinh lý và nhất là bệnh lý của cơ thể có thể được thực hiện từ xa với sự giúp đỡ của các vật chứng: bản đồ, hình ảnh, chữ viết, tóc…

Người ta cho rằng sóng tinh thần (l’onde mental) di chuyển với vận tốc của ánh sáng và có thể thấy được ở những địa điểm rất xa mà không cảm thấy khó khăn gì giống như đang ở tại chỗ vậy. Cũng có thể cuối cùng chẳng có một sự di chuyển nào cả mà tiềm thức của nhà Cảm xạ bắt liên lạc với trung tâm của vũ trụ, để có được lời giải đáp. Lúc đó tiềm thức sẽ tác động lên thể năng lượng của nhà Cảm xạ để làm quả lắc chuyển động.

Tất cả các giả thuyết này đều đầy đủ không cần phải bổ sung. Khoa học hiện nay chỉ là thời tiền sử của sự phát triển vĩ đại của nó. Hơn nữa còn nhiều vấn đề để một phương trình E= mC2 làm sáng tỏ cho tất cả sự bí mật bao quanh chúng ta. Tuy nhiên con người có thể phát hiện vô số thông tin vô hình và chưa được biết về mặt khoa học. Các cơ quan chuyên môn và nhất là khoa Sinh học chưa có cái nhìn tổng hợp mà chỉ phân tích các hệ thống với cái nhìn từng phần đối với vật thể mà chưa hội nhập với một cái nhìn gắn bó, tổng quát mang tính toàn cầu. Ngược lại, khoa Cảm xạ học, sử dụng các  phương pháp phân tích giúp dự kiến phải làm thế nào để các hệ thống được phân tích có thể phát triển dựa trên tiềm năng của nó vào một giai đoạn nào đó.

Trong một trường hợp nhất định của Cảm xạ học, phương pháp này giải nghĩa một cách chính xác sự tiếp nhận và truyền dẫn năng lượng rung động từ một cá nhân, một vật thể, một ngôi nhà. Sự khảo sát này được thực hiện trên nhiều mức độ rung động và các biên độ nhất định để có thể xét đoán một cách có hệ thống, ví dụ sóng điện từ, nước ngầm…

Như vậy, nhà khoa học cần phải hiểu rằng cuộc sống nhất là những gì liên hệ đến con người thường được hợp thành từ một tổng thể mà về mặt cấu tạo vật chất chỉ là một phần rất nhỏ. Từ chối xét đoán những gì chưa được giải thích một cách hợp lý là một thái độ thiếu tinh thần khoa học.

 DỤNG CỤ DÙNG TRONG CẢM XẠ ĐỊA SINH HỌC

Các dụng cụ thường dùng trong cảm xạ, bao gồm:

          – Đũa hình chữ Y, chữ V.

          – Đũa hình chữ U.

          – Đũa hình cung.

          – Đũa hình xoắn.

          – Đũa hình chữ  L

          – Đũa Michel.

          – Con lắc kim loại.

          – Con lắc thạch anh.

          – Kim tự tháp.

Các loại dụng cụ trên chúng tôi đã giới thiệu trong quyển Cảm xạ và đời sống.

Thời gian gần đây có một số dụng cụ nhạy hơn như:

          – Antenne Lecher (xem hình)

          – Đũa cảm xạ 2001

Dùng để tìm những khu vực phát ra năng lượng xấu. (Đũa hiện có tại bộ môn)

  CÁC BIỆN PHÁP ĐO ĐẠC KHOA HỌC

Các kỹ thuật dò tìm sóng đang được nghiên cứu và hoàn chỉnh, nhất là được khoa Y Sinh học và Vật lý học hỗ trợ ngày càng nhiều. Một số nhà Địa Sinh học đã thực hiện các cuộc giám định khoa học và thực hiện một bảng báo cáo chi tiết: bảng này phù hợp với kết quả của một số đo đạc quan trọng để sau đó kiểm chứng với các dữ liệu do OMS đề ra và hoạch định các biện pháp cần thiết, nhờ đó một số lớn người dân sống trong những ngôi nhà thiếu an toàn có thể được chiếu cố chăm sóc nhiều hơn.

Ngày nay một loạt máy móc đo đạc đã được sử dụng nhất là ở Đức và Bỉ: địa từ kế, đồng hồ đo tia đồng vị phóng xạ, ống đếm ion, sự cân bằng địa từ trường, máy phát hiện mạch nước Schmidt, máy đo trường điện động hay tĩnh và trường từ tính động, máy đo sự ô nhiễm điện từ trường, đồng hồ Geiger Miller, Ion kế, Ohm kế, máy đo sóng ngắn, âm kế, vv..

Ngành Y học cổ truyền, luôn nhạy cảm với những vấn đề bên lề khoa học nhưng có tính chất hợp lý và có thể đo lường để kiểm tra được bằng cách cộng tác với các nhà Cảm xạ Địa Sinh học để chủ động trong việc sử dụng các loại máy này với mục tiêu chung là phát hiện các nguyên nhân gây ra bệnh tật.

 Máy đo các trưỜng

Máy này dùng đo các yếu tố nguy hại gây ra bởi hệ thống điện công nghiệp và điện gia đình. Dựa trên thiết kế của bộ vi xử lý có nhiệm vụ đo đạc và hiệu chỉnh tất cả các tham số.

  – Phần 1 của máy dùng để đo các trường tĩnh điện xoay chiều. Mức độ đo đạc từ 0 đến 10.000 V/m. Máy này có thể tìm mua ở Học viện nghiên cứu Hydro-Québec ở Canada.

  – Phần 2 của máy dùng đo trường điện từ xoay chiều, ví dụ trường của một biến điện hạ thế, nơi đó trường điện có thể không đáng kể nhưng có trường từ tính. Thang đo đạc từ 100 nT và 10 mT với độ phân giải là 1 nT (1mT = 1 gauss).

Máy đo các trường này còn mang một đặc tính khác: sự chuyển mạch của mức độ đo đạc được thực hiện bằng tay hoặc tự động.

Mục tiêu của sự giám định là phát hiện các bức xạ không bị ion hoá để tự bảo vệ.

Máy đo MỨC ĐỘ ô nhiỄm điỆn tỪ TRƯỜNG(tẦn sỐ cao và siêu sóng) M.H.F

Máy này đo khả năng lan tỏa của tất cả các tần số bức xạ hiện diện tại một nơi nào đó.

ĐỒng hỒ Geiger Miller

Dùng để đo các bức xạ gọi là ion hoá, nghĩa là các bức xạ alpha, bêta và gamma. Chu kỳ đo có thể là 1 giây, 1 phút hay hoàn toàn tự do.          

        Địa tỪ kẾ

Dùng để đo tính bất thường của cường độ và phương hướng của từ trường chạy dưới đất. Địa từ kế giúp phát hiện trong không gian, các yếu tố sinh bệnh mang tính địa phương. Nó chỉ đo sự thay đổi cường độ mà không làm thay đổi cường độ để không tạo các rối loạn trên bộ phận của cơ thể.

Sự chuyển động của kim đồng hồ cho biết sự rối loạn có nguồn gốc địa chất hay có nguồn gốc kỹ thuật, ví dụ như sự xuất hiện của khối kim loại.

Một địa từ kế gồm có 1 máy dò dùng để thực hiện việc đo đạc trong không gian ba chiều.

Bất cứ nơi nào mà địa từ kế chỉ một sự thay đổi của trường thì đũa của người dò tìm mạch nước cũng thay đổi theo. Đũa dùng để xác định các nguyên nhân một cách khách quan với các con số chứng minh kèm theo. (Hiện đang có tại bộ môn Năng lượng cảm xạ)                

 MÁY ĐO ION

Việc đo này liên hệ đến sự hiện diện của ion dương tính (+) và âm tính (-) trong không khí. Số lượng ion thay đổi tùy thuộc vào khối lượng và điện tích.

Việc đo lường được ứng dụng dựa trên hiện tượng hao phí: Khi một vật tích điện đặt trên một vật cách điện thì nó phải chịu sự tác động liên tục của các ion trong không khí bao quanh nó.

Một vật thể nhiễm điện đặt trong trường địa điện từ tạo ra sự chảy dồn ion ngược dấu với tích điện của nó. Tích điện này tuần tự bị vô hiệu hoá. Các đo đạc này được thực hiện bằng máy đo ion phân độ theo cm3 không khí. Đưa không khí cần đo đạc chạy vào giữa các phần cảm ứng của một tụ điện. Phần cảm ứng này nhận các ion có cực ngược lại cực của nó. Do vậy chỉ có thể đo mỗi lần một thành phần ion mà thôi. Những máy đo ion gần đây có thể phân tích cùng lúc ion âm và dương tính đồng thời đưa ra các thông số khác: nhiệt độ, độ ẩm.

Máy này là dụng cụ thiết yếu trong các khảo cứu về sự nguy hại vì như chúng ta biết, ion hoá không khí là một trong những thông số bị xáo trộn nhiều nhất.

         Máy đo trưỜng tĩnh điỆn

Nhìn chung, trái đất và bầu khí quyển có thể chia thành ba vùng: mặt đất: dẫn điện tốt và tích điện âm; hạ tầng và trung tầng khí quyển, cho đến khoảng 50 km: dẫn điện yếu; thượng tầng khí quyển: dẫn điện tốt và tích điện dương.

Cấu tạo khí quyển coi như có 1 lớp cách điện nằm giữa hai chất dẫn điện trái chiều nhau tương đương một tụ điện hình cầu khổng lồ.

Như vậy khí quyển được đặt trong một trường điện mà các khuynh độ (gradient) được điều khiển thẳng đứng từ cao xuống thấp  và các đẳng thế song song với bề mặt địa cầu, trừ phần sát mặt đất nơi chúng phải đi theo sự gồ ghề của thế đất. Trường tĩnh điện này được đo bằng Volt/mét. Máy đo gồm nhiều kích cỡ.

 MÁY ĐO ĐIỆN TỪ TRƯỜNGModel EMF – 200AElectromagnetic Field, Radiation Tester

Nhờ vào máy đo điện từ trường, bạn có thể phát hiện căn nhà của bạn đang ở, căn phòng của bạn đang làm việc, giường ngủ của bạn có bị nhiễm điện từ trường không. Nhờ vào nó, bạn có thể đặt máy vi tính để tránh được sự cộng hưởng của điện từ trường, đơn vị tính milligauss (0,1 mG – 199,9 mG).

 MÁY ĐO NHIỆT ĐỘ

Nhờ vào máy đo nhiệt độ có độ chính xác cao, bạn có thể tìm ra sự chênh lệch nhiệt độ trong nhà, trong phòng với thời gian vài phút.

 MÁY ĐO NĂNG LƯỢNG CON NGƯỜI

Máy đo năng lượng giúp bạn biết được năng lượng của con người tại thời điểm hiện tại:

  • Từ 0-100% = Yếu
  • 0 – 2 = Năng lượng quá yếu
  • 2 – 4 = Năng lượng còn yếu
  • 4 – 5 = Năng lượng có khá hơn
  • 5 – 6 = Năng lượng trung bình
  • Không có khả năng chữa bệnh, chỉ tự điều chỉnh những rối loạn trong cơ thể của bản thân thôi.

Từ 100-200% = Tốt

  • Bình thường

Từ 200-300% = Rất tốt

  • 12 – 18 = Năng lượng rất mạnh có thể chữa được những bệnh khó.

Từ 300-400% = Cực kỳ tốt

  • 18 – 24 = Năng lượng dồi dào, có thể chữa được những bệnh khó, chữa bệnh từ xa. (Máy hiện có tại bộ môn)

Chuyên viên Cảm xạ Địa sinh học Dư Quang Châu