Những mối nguy hại từ điện từ trường đến con người

650 lượt xem

Những mối nguy hại từ điện từ trường đến con người
(DQC) Phát triển bằng cách thích ứng là một trong các nguyên tắc chính của cuộc sống. Mọi người cần phải hiểu rõ điều này và đặc biệt là với những ai có vai trò quan trọng trong những kỹ thuật công nghiệp mà đã tạo ảnh hưởng ra môi trường xung quanh và nhất là trên sinh khí quyển.

Các thông tin qua chữ viết đã phát triển tương đối chậm vì người đọc phải để dành thì giờ để thích ứng với các thông tin theo lối giao tiếp. Thực vậy, điện tử học, hệ thống viễn thông vũ trụ, công nghệ tin học phát triển nhanh đến nỗi mọi người cần phải thực hiện việc thích ứng ngay. Cơn sốt thời đại điện tử – tin học tràn khắp thế giới, nhưng dường như ít ai chú ý đến mặt trái của nó.

“Loài người không có khả năng nào để thích nghivới tần số vô tuyến và siêu tần số mà người ta quan sát được trong môi trường bao quanh.”

Presman

GIÁO DỤC VÀ TRUYỀN HÌNH

Các chương trình truyền hình dành cho tuổi trẻ được gia tăng theo cấp số nhân tạo nhiều khó khăn cho các bậc cha mẹ trong việc dạy dỗ con cái so với trước đây. Ngày xưa, phụ huynh chỉ cần liếc qua sổ điểm để cho phép hay không cho phép trẻ được xem truyền hình trong ngày.

Với hơn 70 giờ/tuần, truyền hình đã rứt con cái khỏi vòng tay cha mẹ. Theo thống kê, trẻ em từ 5 đến 12 tuổi mỗi ngày ngồi trước màn hình từ 2 đến 3 giờ 30, tức trung bình 21 giờ/tuần.

Qua khảo cứu suốt hai năm trên 300 trẻ từ 9 đến 16 tuổi, giáo sư Rufo phát hiện việc thích xem vô tuyến khiến học sinh kém năng động, thiếu tập trung trong học tập và là một trong các nguyên nhân của sự sút giảm thứ hạng trong lớp. Trẻ mỗi ngày xem vô tuyến dưới 50 phút sẽ có điểm số trong học tập cao hơn so với trẻ ngồi suốt 2 giờ/ngày trước màn ảnh nhỏ.

CÁC NGUY HẠI ĐIỆN TỪ TRƯỜNG VÀ VÔ TUYẾN

Ngoài sự thụ động và tính ù lì do vô tuyến đem lại, ta còn chịu tác động của sự biến đổi môi trường do việc sử dụng máy thu thanh, thu hình, vi tính, vô tuyến điện, các đài radar, các hệ thống chống trộm… mà đôi khi ta không nhận ra. Các rối loạn sinh học được tạo ra bởi điện từ trường có 2 loại:

       – Việc tiếp nhận trong một thời gian lâu dài các thông tin bằng tiếng động và ánh sáng quá mạnh hay không được điều chỉnh đúng mức sẽ tạo mối nguy hại cho các rối loạn sinh lý có thể là thính giác, thị giác hay thần kinh.

       – Việc truyền tải các thông tin cần một sự hỗ trợ của sóng điện từ mà phạm vi của sự phát xạ bao phủ các khu vực cạnh các máy phát và đặt dân cư ở đó dưới ảnh hưởng của điện từ trường…

Trước tầm quan trọng của vấn đề, Tổ chức Y Tế thế giới (OMS) và Hiệp hội Quốc tế về bảo vệ vô tuyến (radio protection) đặt ra các tiêu chuẩn vệ sinh môi trường đối với các tần số vô tuyến và siêu tần số. Báo cáo tổng kết này thật đáng báo động.

 SÓNG NÀO CÓ VẤN ĐỀ?

Toàn bộ phổ điện từ, nhất là các tần số vô tuyến và siêu tần số đều có ảnh hưởng, đó là các tần số giữa 100 KHz và 300 GHz.

Dãy tần số vô tuyến trong khoảng 100 KHz – 300 MHz nghĩa là bước sóng trong không khí từ 3 km đến 1 m. Thang siêu tần số từ 300 MHz tới 300 GHz nghĩa là bước sóng từ 1m đến 1 m/m.

BẢNG PHÂN LOẠI SÓNG ĐIỆN TỪ

Tần số Bước sóng Ký hiệu Thông tin
0 300 000 km V.L.F. Hạ âm
10Hz 30 000km Âm nhạc – Âm nghe được
30kHz 10km
300 kHz 1km L.F. Siêu âm -Radio – Sóng dài
3000 kHz 100 m M.F. Radio – Sóng trung
30 MHz 10 m H.F. Radio – Sóng ngắn
300 MHz 1 m    V.H.F Radio – Sóng cực ngắn – TV Radar
3000MHz 1 dm U.H.F. Lò vi ba
30 GHz 1 cm         S.H.F             Vô tuyến viễn thông

        E.H.F                       qua vệ tinh

300 GHz 1 mm
3000 GHz 0,1 mm Ánh sáng Tia hồng ngoại
       
30 THz 0,01mm    
300 THz 1µm    
  0,4¸0,8 µm   Ánh sáng thấy được
3000 THz 0,1µm Mềm Tia cực tím
3.1016 Hz      0,01µm
3.1017 Hz      0,001µm
3.1018 Hz 1 Å Tia cứng Tia X quang
     
3.1019 Hz 0,1 Å  
3.1020 Hz 0.01 Å  
3.1021 Hz 0,01 Å Tia alpha
3.1022 Hz 10-1 Å  
3.1023 Hz 10-5 Å  
3.1024 Hz 10-6 Å Tia vũ trụ

 Các điều kiện trình bày trong bảng thống kê trên có thể thay đổi tùy theo kích thước, hình dạng, phương hướng và tính chất điện tử của sự vật.

CÁC NGUỒN BỨC XẠ

Nguồn bức xạ chủ yếu trong tự nhiên nằm trong bầu khí quyển do tĩnh điện tạo ra một trường điện từ khoảng 130 V/m. Mặt trời và các ngôi sao cung cấp một dòng năng lượng khoảng10 picowatts/m2 giữa 100 kHz và 300 GHz. Tóm lại, các cơn giông chỉ có vai trò cục bộ. Có thể nói là từ hàng ngàn năm nay, con người đã tự thích nghi với môi trường điện từ cũng như với môi trường hoá học (như đất đai, đại dương, khí quyển). Đó chính là lý do khi có một sự biến đổi quan trọng và đột ngột của tham số này tạo ra nhiễu loạn rất lớn dẫn đến tật bệnh.

Ta có thể nói rằng việc hạ thấp tỷ lệ oxy trong khí quyển tạo ra sự sút giảm khốc liệt trong một thời gian có thể dẫn đến cái chết hàng loạt… Nhưng vẫn có một sự biến đổi tương đối quan trọng, đột ngột và không dẫn thẳng đến cái chết mà chỉ tạo ra những rối loạn tâm lý mà ta không thể lơ là. Mối quan hệ giữa hoá học và đời sống đã rõ ràng nhưng tác động của các chất phóng xạ và của các bức xạ không ion hoá thì phức tạp hơn nhiều. Hiện tượng bứt rứt, ô nhiễm tạo mối nguy hại trong những năm gần đây và càng ngày càng lan rộng khiến ta cần phải lưu tâm đặc biệt.

Nguồn gốc tự nhiên của sóng có thể phân làm hai loại tùy vào nguồn phát có chủ ý hay chỉ là những nguồn bức xạ nhiễu, không quan trọng.

       – Trong các nguồn phát có chủ ý phải kể đến các máy phát thực sự chứa bức xạ: đó là các antenne phát thanh truyền hình. Chúng được thiết kế để phát các sóng điện từ ra môi trường bao quanh theo những thể thức nhất định. Tần số, hướng dẫn truyền và điểm phát sóng bị thay đổi tùy theo cấu tạo của máy phát. Mặc dầu luật lệ qui định rất khắt khe và sự tỉ mỉ trong khâu phát sóng, nhưng vẫn luôn có những rò rỉ bức xạ nhiễu.

Bức xạ RF từ 1000 W ERP Low-Gain Antenna đối với tháp cao 15 m

        – Các bức xạ “nhiễu” mang hình thức một tiếng ồn lớn. Một số trường hợp, tia này tương ứng với các chương trình phát trong thang 100 KHz – 300 GHz.

 Các máy phát cổ điển gồm các đài phát thanh vô tuyến và truyền hình, radar và các hệ thống viễn thông, các vệ tinh. Các máy phát vô tuyến lưu động thường được một số lớn người dân mang theo mình hay trang bị trong xe hay gần đây nhất là điện thoại di động đều có nguy cơ tạo cho người sử dụng những nguy hại của điện từ trường.

Các nguồn phát sóng nhân tạo thì khác, máy phát ra công suất bao nhiêu thì có bấy nhiêu dòng năng lượng bức xạ, vậy thì vấn đề bị ảnh hưởng bức xạ nhiều hay ít là tùy ở người sử dụng máy.

MẬT ĐỘ CÔNG SUẤT BỨC XẠ TRÊN MỘT ĐƠN VỊ DIỆN TÍCH

Dân chúng thị thành tại các quốc gia công nghiệp phát triển có thể bị nhận bức xạ với một cường độ tổng quát tính theo microwatt/cm2.

Cư dân tại các cao ốc ở gần với các antenne vô tuyến đặt trên mái nhà của những người láng giềng có thể sống trong mật độ bức xạ  từ vài trăm microwatt đến vài milliwatt/cm2. Dân cư tại một thị trấn có thể bị sống trong môi trường có mật độ bức xạ như sau:

            – 50% nhận dưới 5 mW/cm2

            – 45% nhận từ 5 đến 10 mW/cm2

            – 4% nhận từ 10 đến 100 mW/cm2

            – 1% vượt quá 100 mW/cm2.

          Giới hạn qui định mật độ bức xạ không được phép vượt qua là 10µW/cm2.

 MỘT TAI HOẠ CÔNG NGHỆ VÔ HÌNH

Thật đáng tiếc là có quá ít người quan tâm đến vấn đề nóng bỏng là sự phát triển của máy phát và máy tạo sóng thuộc mọi loại mà lợi ích thực tế cần được chứng minh tính hiệu quả.

Nhà Cảm xạ Địa Sinh học, hơn lúc nào hết, cần phải nghiên cứu sự khuếch tán rất lớn của các nguồn độc hại trong thiên nhiên. Mặt khác, phản xạ của nhà Cảm xạ bị lệch đi nếu bị một số bức xạ tác động đến, nhất là các bức xạ trong dãy từ 3 đến 30 GHz.

Các chuyên viên điện tử không mảy may lo lắng đến các hậu quả về mặt y học và xã hội phát sinh từ các hệ thống do họ thiết kế.

Các bác sĩ thì không được đào tạo về mặt chuyên môn cần thiết giúp họ đặt nghi vấn về mối liên hệ nhân quả có thể có giữa một số rối loạn, một số bệnh tật với các kỹ thuật hay máy móc cũng như môi trường bao quanh. Vai trò của nhà Cảm xạ Địa sinh học là gạch nối cho hai giới này.

CÁC MỐI NGUY HẠI DO ĐIỆN TỪ TRƯỜNG  ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỨC KHOẺ

Antenne ngưỜi

Con người lúc đứng thẳng có tác dụng như một antenne để tiếp nhận sóng. Các bộ phận trong cơ thể của chúng ta được cấu tạo để hấp thụ lượng bức xạ điện từ theo nguyên tắc giống như antenne. Tùy vào hình dáng mà từng bộ phận của ta sẽ nhạy cảm đối với một loại tần số nào đó. Chính tần số đó cho phép xác định biên độ cực đại của bức xạ độc hại đối với các bộ phận trong cơ thể.

Tế bào được ví như một bộ tích điện và một mạch dao động. Do vậy, nó có một thế điện và cộng hưởng trên một tần số tùy vào vai trò của nó trong cơ thể. Năng lượng mà tế bào trao đổi thuộc về điện từ trường thiên nhiên. Tóm lại, các bộ phận của cơ thể tích giữ hạt ánh sáng (photons) và phát xạ các hạt. Ánh sáng này bảo đảm cho hoạt động điều hoà các cơ chế trọng yếu. Năng lượng điện từ phát ra theo tế bào sống gắn bó chặt chẽ tới toàn thể thông tin của bộ phận. Đó là dấu hiệu để nó có thể giúp cho các bộ phận của cơ thể đồng nhất hoá, tự biết mình trong mối liên hệ với tổng thể. Tế bào sẽ mất đi tính đồng nhất của mình khi không còn cộng hưởng với các dấu hiệu năng lượng điện từ tác động lên nó. Tế bào tuân thủ trước hết vào một định luật vật lý – sinh học sau đó vào sự tương tác hoá học. Như vậy, bệnh tật trước nhất chỉ là một sự rối loạn của điện từ trường. Mỗi cá nhân, tùy theo thể tạng sẽ có một mức độ nhạy cảm của riêng mình trước các tham số của môi trường xung quanh.

 Ảnh hưỞng sinh học Tùy thuộc vào các tần số

Không cần phải căn cứ vào toàn bộ cơ thể mà chỉ cần căn cứ vào các bộ phận khác nhau hay thành phần cấu tạo ra chúng để nhận ra rằng những tần số cao (UHF, SHF và EHF) là những tần số có khả năng để gây ra xáo trộn nhất. Sự thâm nhập của sóng trong các mô, não bộ và trong một số bộ phận khác tùy thuộc vào tần số phát.

VHF, UHF và SHF là những tần số thông dụng nhất

đối với kỹ thuật hiện nay, các tần số này tạo ra một sự thâm nhập lớn vào trong các mô mỡ, thuỷ tinh thể. Những tần số ở giữa 30 MHz và 3 GHz đặc biệt nguy hại do ảnh hưởng không phát nhiệt của chúng. Máu và các thành phần khác cũng nhạy cảm với  bức xạ mà tần số vượt hơn mức 2,5 GHz.

D. Depris xếp các ảnh hưởng sinh học phụ thuộc vào tần số và dẫn đến kết luận sau:

       – Tần số từ 25 đến 30 MHz (người chơi radio nghiệp dư, taxi….) thâm nhập từ 3 đến 4 cm vào bên trong não bộ, thâm nhập vào  toàn bộ tuỷ sống, thuỷ tinh thể của mắt. Các sóng này ảnh hưởng đến các mô và xương nhưng gây xáo trộn nhất cho não bộ và hệ thần kinh.

       – Tần số từ 88 đến 108MHz (truyền thanh vô tuyến có điều biến tần số) thâm nhập tối đa vào não bộ đến hơn 4cm, thâm nhập vào toàn bộ tuỷ sống và toàn bộ con mắt.

       – Tần số từ 174 đến 216 MHz (dãy III, VHF ở vô tuyến). Tác động giống như dãy trên. Dãy V – vô tuyến ảnh hưởng nhiều nhất đến các bộ phận trong cơ thể của trẻ còn đang lớn.

       – Tần số từ 614 đến 854 (dãy V, UHF ở vô tuyến, mobiphone). Thấm qua não bộ 2cm trong khi khả năng năng lượng gia tăng mạnh một cách rõ rệt: 10 lần nhiều hơn mức độ 88 MHz. Thấm vào toàn bộ tuỷ sống và trung tâm thần kinh.

       – Tần số từ 2,45 GHz (radar giám sát, vệ tinh vô tuyến, lò vi ba) thấm vào não bộ từ 5 mm đến 1 cm, ảnh hưởng tới toàn bộ tuỷ sống. Tần số này rất nguy hiểm cho mắt và nó bắt đầu tác động đến máu, đến các vi sinh vật (chuỗi phân tử, acid amin…) và thấm vào mỡ gần 5 cm.

       – Tần số từ 10 đến 100 GHz (radar dân sự và quân

sự, vệ tinh vô tuyến, lò công nghiệp) thấm sâu đến tất cả diện tích của não bộ khoảng vài mm. Các sóng này phát triển từ 1000 đến 10000 lần năng lượng nhiều hơn một sóng 10MHz và tác động trực tiếp vào máu, vào tất cả các vi sinh vật và vào mỡ khoảng 1 cm. Mặc dầu khả năng thâm nhập yếu nhưng các tác động sinh học của chúng thật lớn lao.

KẾT LUẬN

Trong nhiều năm liền, tác động hỗ tương giữa các tần số vô tuyến, siêu tần số và các cơ thể sống được xem xét gần như chỉ chuyên về phần quang học trong lý thuyết của điện từ trường. Có thể kết luận là cơ chế quan trọng duy nhất nằm trong sự truyền tải năng lượng hấp thụ bằng động năng của các phân tử. Tuy thế các chênh lệch giữa một số quan sát dựa vào kinh nghiệm và các giải thích lý thuyết đã biết khiến ta nghĩ rằng các hiệu ứng không đổi nhiệt cũng đóng một vai trò nào đó.

Theo Presman, giả thiết về sự giao thoa trực tiếp của các  trường điện từ với các hiện tượng điện sinh học được thể hiện qua điện não đồ và điện cơ đồ trong việc truyền tải thông tin sinh học.

Bác sĩ Milton Zaret chuyên viên giám định bức xạ, bác sĩ nhãn khoa ở Khoa Y, New York chứng minh rằng sóng có vài Hz gây ra sự lão hoá sớm cho các bộ phận trong cơ thể và nhanh chóng dẫn đến tử vong. Phải chăng đây là vật trung gian gây ra căn bệnh mà ta không hiểu rõ nguyên nhân cũng như cách phòng tránh bệnh Alzheimer? Sự gia tăng nhanh chóng của người mắc bệnh này trong vài thập kỷ trở lại đây khiến ta phải suy nghĩ.

 Có phải đây là thủ phạm của việc gia tăng thường xuyên và đáng sợ về chứng bệnh thần kinh và tâm thần hay cả các tính hung hãn của các thanh thiếu niên tại một số địa bàn ở ngoại ô các thành phố công nghiệp phát triển?

Người ta cũng có thể nghĩ đến sự gia tăng các bệnh về tim mạch, các nghiên cứu về ung thư, nhất là ung thư máu.

Các ô nhiễm về hóa học và tiếng ồn trong môi trường bao quanh được giác quan của ta nhận biết sẽ giúp ta có thể tự bảo vệ. Trái lại các ô nhiễm có nguồn gốc điện từ trường lại không được bất cứ giác quan nào nhận ra.

Bác sĩ Dernier qua các biểu đồ dòng điện chạy trong não bộ phát hiện rằng con người là trung tâm của một dòng điện cảm ứng với tần số 50 Hz. Sẽ ra sao cho một đối tượng thường xuyên chìm ngập trong một môi trường cộng hưởng với các dao động lạ? Việc hấp thụ các tiếng ồn này khiến con người ở trong trạng thái kích động thường xuyên chắc chắn sẽ gây cảm giác bất ổn cho đương sự.

Hậu quả của sự chênh lệch giữa sự gia tăng các ô nhiễm điện từ và khả năng thích ứng của chúng ta được biểu hiện bằng: căn bệnh của nền văn minh, các hội chứng của sự mất thích ứng. Sự thoái hoá sớm cũng được biểu hiện bằng bệnh huyết khối, xơ hoá và ung thư.

            Các nguy hại này được ghi nhận một cách khoa học tại nơi cư ngụ. Sau giám định, khi cần, nhà Cảm xạ Địa sinh học sẽ thiết lập một danh sách các công việc để đánh giá thực hiện. Tùy khả năng, ông ta có thể giúp làm giảm thiểu hay vô hiệu hoá các mối nguy hại.

Chuyên viên Cảm xạ Địa sinh học Dư Quang Châu