Những phát hiện từ các đo lường khoa học

618 lượt xem

Những phát hiện từ các đo lường khoa học
(DQC) Như ta vừa thấy, khoa học hiện có những công cụ đo lường giúp phát hiện sự hiện diện của điện từ trường (tĩnh hay cảm ứng), các trường từ tính, sóng điện từ và các bức xạ khác nhau. Việc đo đạc được thực hiện bởi các nhà chuyên môn ở nhiều quốc gia khác nhau giúp thu thập các thông tin chuẩn xác, chắc chắn vì đã được kiểm chứng nhiều lần.

“Tóm lại, cái chết chờn vờn trên các bước sóng,tần số và cường độ giống như một bản giao hưởng thống thiết hay một chương trình phát thanh”.

                                       Roger de LAFFOREST

 ĐO LƯỜNG ĐỂ ĐIỀU CHỈNH THÀNH NHỮNG THẾ ĐẤT AN TOÀN

TỪ TRƯỜNG CỦA QUẢ ĐẤT

Không kể đến các dao động thoáng qua như các cơn bão từ, địa từ trường tại một nơi nằm trong vùng không bị xáo trộn bởi môi trường thì giá trị của một cảm ứng từ có thể là:

                               B = 0,47 x 10-4 T

Trị số này là trị số của vectơ cảm ứng thực tế, hướng sâu vào lòng đất với độ nghiêng 65o.

Thành phần nằm ngang, nghĩa là trị số tác động trên

một kim la bàn đặt ngang là:

BH = 0,205 x 10-4 T

Trong khi thành phần thẳng đứng có trị số là:

BV = 0,420 x 10-4 T

Tuỳ địa điểm, các thay đổi của trị giá trung bình của cảm ứng từ tính trên mặt đất, trị số bình thường là:

Bbình thường = 0,5 x 10-4 T

TRƯỜNG TĨNH ĐIỆN

Một trường tĩnh điện khá quan trọng hiện diện trong bầu khí quyển là vùng mà con người, súc vật, chim muông và cây cỏ sinh sống. Bề dày của vùng này trên vỏ trái đất đo được vài trăm mét

Trong khoảng vài chục mét trên mặt trái đất, lúc khô, điện từ trường khoảng:

E = 130 V/m

Ở độ cao, điện từ trường không còn ổn định nữa và giảm rất nhanh.Ở độ cao 10 km là 4 V/m, lên đến 20 km là 1 V/m. Nếu xem thế điện của trái đất là 0 thì thế điện của tầng điện li là 360.000 V so với trái đất, mật độ dòng điện ở đó là:

3 x 10-16  ampère/cm3

Một người cao 1m70 đứng ngoài trời không có chướng ngại bên trên, không khí trên đầu có thế điện là:              

130 V/m x 1,70 = 221 V

Tương tự như điện trở của cơ thể con người rất thấp so

với không khí, các đường đẳng thế bị lệch đi và thế điện đầu – chân là dưới 221 Volt.

Điện từ trường này thay đổi tuỳ theo vùng, ngày và đêm, theo mùa, thời tiết, độ cao nhưng không bao giờ triệt tiêu trong thiên nhiên.

Nếu thật sự con người phải sống trong một trường tĩnh điện một chiều khoảng 130 V/m thì còn một điều quan trọng hơn là con người còn phải sống trong một trường điện từ xoay chiều nhất thiết bằng zéro . Thật ra, từ hơn 50 năm nay thông tin 50 Hertz như hệ số môi trường bao quanh đã được triển khai trong việc sử dụng điện nhưng con người đã không thích ứng được.

 TÍNH PHÓNG XẠ

Từ xa xưa, con người đã được thuyết trình về các bức xạ ion hoá đến từ các nguồn khác nhau trong thiên nhiên. Sự phát xạ cảm ứng tác động đến hầu hết dân cư trên địa cầu và đã tạo ra một tỉ lệ tương đối ổn định.

Một số các nguồn bức xạ tạo ra sự phát xạ ra bên ngoài: đó là các tia vũ trụ, các chất phóng xạ bị nén trong đá. Một số khác tạo nên sự phát xạ bên trong vì được cấu thành bởi sự hít thở và ăn uống các chất phóng xạ tự nhiên hiện diện trong không khí và trong thực phẩm.

Các khảo cứu trong những năm gần đây trên thế giới chứng minh rằng sự hít thở tạo ra cách phát xạ rất là quan trọng. Trên thực tế, 75% sự phát xạ là do sự hít thở chất đồng vị phóng xạ của radon 222 và hầu hết số lượng bức xạ đó con người sẽ truyền lại cho con cháu. Vấn đề là một chất khí tự nhiên thậm chí là một chất đồng vị phóng xạ đi nữa  đều có nguồn gốc từ radium 226 và radium 224. Các nguyên tố phóng xạ  này có trong thiên nhiên, trong lòng đất và cả trong vật liệu xây dựng với hàm lượng biến đổi tùy theo vị trí.

ION HÓA KHÔNG KHÍ

Số lượng các phân tử trung tính trong l m3 không khí là 2,687 x 1019 tức gần 27 tỷ tỷ. Tỷ lệ ion dương hay ion âm, nhỏ hay lớn so với con số ion này không có giá trị gì cả. Ta có thể so sánh tác động của sự ion hóa trong không khí trên vật thể sống với tác động enzym hay với vai trò của nguyên tố vi lượng  hay với phương pháp điều trị bằng vi lượng đồng căn. Sự tập trung số lượng phân tử trung tính này biến đổi bất thường ngay cả khi ở trong cùng một địa điểm. Các thay đổi lớn trong thiên nhiên còn tuỳ thuộc vào giờ và tháng. Nhiều thông số khác cũng làm thay đổi tỷ lệ ion hoá. Theo Giáo sư Métadier ngưỡng tối thiểu cần thiết để duy trì một sức khoẻ tốt là:

2000 ion âm (négatif) nhỏ/cm3 không khí

 ĐIỆN TRỞ CỦA NGƯỜI

Dùng máy đo điện trở cổ điển Ohm kế để dẫn một dòng điện một chiều có cường độ rất nhỏ chạy qua hai bàn tay khô cầm những ống kim loại. Việc đo đạc được thực hiện trong vòng từ 2 đến 3 phút và kết quả được ghi trên một mạch (graphe). Toàn bộ tiến trình cần từ 30 phút đến 1 giờ và các điểm nối liền nhau trên mạch đó tạo ra một đường cong gọi là géorythmogramme.

Trong Ohm kế có một cục pin điện áp một chiều tạo ra 1 dòng điện chạy qua cơ thể. Khi điện trở của cơ thể trở nên mạnh hơn thì máy đo được một dòng điện yếu hơn bằng định

luật Ohm:   

U = RI

Điện trở trung bình của một cá nhân được đặt trong một khu vực trung hoà là:

R = 10 kilo Ohms

 TRƯỜNG VÀ BỨC XẠ BẤT THƯỜNG

RÊN CÁC VỈA NƯỚC HAY VẾT NỨT KHÔ

Trị số của cảm ứng từ trường của trái đất bị thu nhỏ lại ở một độ dài nào đó trên mặt nước. Sự thu hẹp này có thể đạt đến hơn 0,1×10-4 Teslas (10.000 nanoteslas) tức 20% so với trị số bình thường ở vùng trung tính .

Con người rất nhạy cảm với các thay đổi này của từ trường . Các bức xạ từ dù rất yếu cũng có thể làm thay đổi nhịp độ của não. Thực tế, cơ thể là một hệ thống năng lượng điện từ và hệ thống này được phân cực. Đặt cực Bắc của một nam châm (1.000-2.000 gauss) cạnh lỗ tai phải của một đối tượng sẽ làm cho tuyến ức bị yếu đi. Ảnh hưởng này không xảy ra với cực Nam. Trái lại, ở cực Nam, cạnh tai trái cũng có cùng sự yếu kém như thế. Cần phải tìm nguyên do của sự cộng hưởng điện bằng sinh học.

Chất phóng xạ có một giá trị cao hơn do sự gia tăng của tia  gamma. Mạch nước ngầm và đường gãy của đá nằm dưới mặt đất tạo thành một đường dẫn cho tia gamma thoát khỏi lòng đất. Các kẽ nứt khô cũng là những lối thoát cho địa phóng xạ.

Thế năng alpha thường vượt qua tỉ lệ 1 microjoule/m3 không khí. Từ trị số này ta có thể tìm lượng khí hít vào hàng năm của một người ngủ trên một vị trí địa hình có các bức xạ từ trường rò rỉ vượt quá 10 msv hay 1000 mrem tức độc hại hơn gấp 5 lần hơn mức trung bình.

Sự ion hoá không khí bị xáo trộn nhiều từ bên trong một cao ốc. Ở vùng trung tính, một máy đo ion ghi được 700 ion dương nhỏ so với 300 ion âm nhỏ /cm 3 không khí tức một ti lệ dương 2,33. Trên một vết nứt khô hay một mạch nước trong cùng một khu vực, máy ghi được 900 ion dương so với 100 ion âm tức một tỷ lệ là 9, điều này thật bất lợi.

 Nếu do cơ sở hạ tầng của ngôi nhà đã làm điện trường bằng không thì điều này sẽ làm giảm bớt một cách đáng kể sự xáo trộn việc ion hoá trong không khí.

Nơi nào mà tất cả các trường động lực tự nhiên bị xáo trộn mạnh thì nơi ấy là một điểm địa sinh bệnh lớn.

BÊN TRÊN MẠNG LƯỚI Hartmann và Curry

Các tia Hartmann và Curry thường có những tập tính khác thường. Cả hai mạng lưới luôn tác động về một hướng. Bên trên các tia của chúng, tia gamma luôn cao hơn mức độ bình thường và cảm ứng từ thay đổi hơn lên hoặc kém đi. Géorythmogramme cho những kết quả tương tự như đã có trên các mạch nước và trên những tác nhân khác tạo ra bức xạ cũng như ở trước các máy vô tuyến. Các thông số khác dường như không thay đổi.

Khi một trận động đất đến gần hoặc một xáo trộn lớn về thời tiết, việc nới rộng các băng Hartmann và Curry đều xảy ra cùng lúc trên cả hai mạng lưới bằng một sự nhảy vọt gây nên những hiệu ứng:

 Hoặc tăng gấp đôi chiều rộng

  •   Hoặc chia chiều rộng ra làm đôi.

Các đo đạc từ tính và bức xạ mang lại những giá trị quan trọng hơn trên các tia chiếu đôi hơn là trên các tia chiếu đơn.

 c. NHÀ Ở “lỒNG Faraday”

 Con người không sống ngoài trời mà được bảo vệ bằng một nơi ở. Điện trường của đất sẽ ra sao trong các ngôi nhà? Toàn thể ngôi nhà hay cao ốc được xem có thế điện bằng zéro. Điều này chỉ đúng cho thế điện một chiều. Dù sống ở tầng 1 hay tầng 10 thì cả sàn nhà dưới chân và trần nhà trên đầu đều ở O volt.

Con người được thích nghi để sống trong một thế điện 130 Volt/m. Thế điện này duy trì một tỉ lệ ion hóa trong không khí với những sự chuyển hóa khác trong cơ thể. Sự Ion hoá tự nhiên của không khí trong một ngôi nhà từ 2000 ion nhỏ ở mỗi cực bên ngoài xuống còn 600 hay 700  ion dương nhỏ và khoảng 200 ion âm nhỏ /cm 3 không khí bên trong.

Ở bên ngoài, ta định nghĩa thế điện trên mặt đất phẳng và không có nhà tạo thành những bình độ ngang gọi là đẳng thế, ví dụ ở độ cao 20 m, thế điện là:

                           130 V/m x 20 m = 2600 V

Nếu cao ốc được xây trong một không gian như thế, nó nâng cao thế điện 0 (không) ở mặt đất lên đúng chiều cao của nó bởi vì tường và mái nhà của nó là O volt. Do vậy trường này được nhân lên bởi chiều cao của cao ốc. Hiển nhiên, một cá nhân ở trên  sân thượng của tầng 10 phải chống chọi với sự bất thường của thế điện mạnh tương tự như trường hợp ở trên núi.

Có những độ cao tạo ít nhiều quan trọng cho sự độc hại nên con người cần thích nghi với trái đất và nên hoà hợp hơn là thường xuyên đương đầu với nó.

Các tia ion hoá hay không ion hoá, sự ô nhiễm hoá học và điện tử trong không khí, sống cạnh các đường điện cao thế, hội chứng của các bệnh khi ở cao ốc sẽ là đề tài khảo cứu sâu rộng hơn sau này.

 Chuyên viên cảm xạ Địa sinh học Dư Quang Châu