Vài hàng về lịch sử cảm xạ (phần 1)

189 lượt xem

Vài hàng về lịch sử cảm xạ (phần 1)
(DQC) Dò tìm từ xa đã có từ thời xa xưa. Hiện nay vẫn còn một vài bức tranh vẽ một nhóm người đang dò tìm từ xa với đũa hình chữ Y trong những hang động Tassili-n-Ajjer ở Đông Nam Libya. Người ta ước tính những bức tranh này có khoảng 8.000 năm trước.

Vào thế kỷ thứ 15 trước công nguyên, Herodotus đã mô tả cách những người Scythian dò tìm từ xa bằng đũa làm từ cây liễu. Theo truyền thuyết, những nhà cảm xạ luôn có mặt trong đám tuỳ tùng trong những chuyến du hành của nữ hoàng Sheba đi gặp vua Salamon. Nhiệm vụ của họ là tìm nước và vàng.

Thuật ngữ “rods” (đũa) cũng đã được đề cập đến trong Kinh thánh. Cuốn sách “Book of Numbers” (Sách về thuật số), ở chương XX, trang 8-11, kể rằng Moses đã hai lần dùng đũa gõ lên một khối đá và từ khối đá đó đã tuôn ra một lượng nước đủ dùng cho thần dân của Moses và gia súc của họ. Đũa chỉ được thừa nhận trong Kinh thánh khi chúng được dùng để phục vụ cho vua chúa. Nó được truyền lại cho tới ngày nay là do các giáo sĩ trong giáo hội và các phù thuỷ.

Nhà thờ Thiên chúa giáo không chấp nhận bất kỳ hình thức nào của bói toán. Vì vậy, dò tìm mạch nước ngầm được coi là liên quan đến quỷ dữ trong rất nhiều năm. Martin Luther cũng coi việc cảm xạ từ xa là tội lỗi, thậm chí ông còn liệt kê nó vào danh sách những điều phá vỡ lời răn dạy đầu tiên trong số 10 lời răn của Đức Chúa trời. Điều này khá là lạ lùng bởi Martin Luther vốn là con của một người khai thác mỏ, lẽ dĩ nhiên ông sẽ nhận thức khá đầy đủ về tác dụng đũa trong việc tìm kiếm các mỏ.

Vào thế kỷ thứ 16, đũa được dùng thường xuyên trong việc tìm kiếm các mạch mỏ ở Đức. Năm 1546, Georgius Agricola đã cho xuất bản cuốn sách “De Re Metallica” (Về các kim loại) đề cập đến việc khai thác mỏ. Trong cuốn sách này, ông giải thích cặn kẽ về sự cần thiết của việc sử dụng đũa trong tìm kiếm và khai thác mỏ. Cuốn sách này bao hàm phạm vi kiến thức rất rộng lớn về cảm xạ và đã trở thành kim chỉ nam trong ngành khai thác mỏ trong suốt một thế kỷ sau đó. Những bản copy của cuốn sách này đã được lưu truyền trong các nhà thờ Thiên chúa giáo, và cũng giống như kinh thánh cha cố đã đọc chúng cho những người thợ mỏ không biết chữ. Qua đó, ta có thể thấy được tầm quan trọng của cuốn sách.

Georgius Agricola là một bác sĩ làm việc tại một mỏ đang khai thác ở phía Bắc Bohemiêng nên ông đã trở nên say mê với ngành khai thác mỏ và những kiến thức xung quanh việc khai thác mỏ. Cuốn sách nổi tiếng của ông thuật lại tất cả những kiến thức mà ông học được.

Trong cuốn sách này có một bức tranh khắc gỗ mô tả hai người đang thực hiện công việc dò tìm trong khi người thứ ba cắt một cành cây để làm đũa. Những người Đức này sau đó đã mang kỹ thuật dò tìm đến Anh để giúp người dân địa phương tìm thiếc ở vùng Devon và Corwall. Nữ hoàng Elizabeth I đã khuyến khích những người thợ mỏ này đến Anh để tìm và xác định các mỏ khoáng sản cho nước Anh.

Người đầu tiên viết về việc dò tìm ở Anh là Robert Boyle, người được mệnh danh là “Cha đẻ của môn hoá học”. Mặc dù ông không thành công trong việc dò các mạch mỏ nhưng ông có một thái độ tích cực về vấn đề này. Trong một bài tham luận xuất bản năm 161, ông viết: “Với một chiếc đũa hình chữ Y làm từ cây phỉ, người ta cầm mỗi nhánh một bên tay và đi lại ở nơi mà người ta nghi ngờ là có mạch mỏ và đũa chúc xuống ở nơi nào là nơi đó có quặng. Rất nhiều nhà văn lỗi lạc, trong đó có nhà văn Gabriel Plat của chúng ta rõ ràng không phải là những người nhẹ dạ, cả tin nhưng khi tận mắt chứng kiến cách người ta dò tìm khoáng sản bằng đũa đã phải thừa nhận giá trị của nó. Tại khu mỏ chì ở quận Somerset, người ta đã phát hiện trước đây đã dò tìm chì bằng đũa. Và những người dò tìm chì bằng đũa đã phải thừa nhận rằng nó chuyển động không theo ý muốn của ông, và tôi thấy nó chúc mạnh xuống đất mỗi khi phát hiện nơi có chì. Tất nhiên là chỉ một số ít người mới có thể thực hiện thành công, và dĩ nhiên, những người được tận mắt chứng kiến sự việc thì sẽ tin vào điều đó hơn là những người không ở đó.”

Sinh ra vào cuối thế kỉ 16, Martine de Bertereau là nhà cảm xạ nổi tiếng đầu tiên. Cô kết hôn với một chuyên gia trong lĩnh vực khai thác mỏ, nam tước Beausoleil et d’Auffenbach. Niềm say mê của cô trong lĩnh vực này là do ảnh hưởng từ chồng và cô trở thành chuyên gia trong không chỉ trong lĩnh vực tìm kiếm khoáng sản mà cả mạch nước ngầm. Việc cô khám phá ra mỏ chateau– Thiery vào mùa xuân năm 1629 là một trong số rất nhiều thành công to lớn đã giúp cô trở thành nhà tư vấn về xác định các mỏ khoáng sản cho chính phủ Pháp.

Cô là một phụ nữ hết sức tiến bộ so với thời đó. Thành thạo 3 ngoại ngữ, say mê khám phá thiên nhiên, thích đi du lịch, cô là người bạn đồng hành lý tưởng với chồng mình trong các chuyến phiêu lưu đây đó. Cô đã đi rất nhiều nơi, thậm chí vượt cả Đại Tây Dương đến Bolivia để tìm các mỏ vàng trên dãy Andes.

Tuy nhiên thật không may, niềm say mê về dò tìm các quặng mỏ của cô bị quy kết là thực hiện các trò phù thuỷ. Cô và chồng đã bị bắt giam vào năm 1627. Vợ chồng cô đã thành công trong việc chống lại những lời cáo buộc. Thế nhưng những dụng cụ để dò tìm khoáng sản, mẫu khoáng sản, bản đồ, báo cáo, và một khối lượng tài sản khổng lồ của họ đã bị tịch thu. Sau đó, hai vợ chồng chuyển đến Đức. Tại Đức, hai người tiếp tục gặt hái nhiều thành công trong việc xác định các mạch mỏ cho đến khi cô cho xuất bản Cuốn sách với tiêu đề “La Restitution de Pluton”. Trong cuốn sách này, cô mô tả về những dụng cụ cô vẫn dùng để tìm kiếm các mỏ khoáng sản. Cuốn sách này như châm ngòi công kích cho những kẻ thù của cô. Vợ chồng cô lại bị bắt giam trong các nhà tù khác nhau và trải qua những ngày cuối cùng của cuộc đời mình trong tù.

Cuốn sách viết về dò tìm khoáng sản và mạch nước ngầm được viết bằng tiếng Anh đầu tiên là cuốn “A discovery of Subterraneall Treasure” (Khám phá nguồn tài nguyên ngầm dưới mặt đất) do Gabrriel Plattes viết, xuất bản năm 1639. Nó nhanh chóng lôi kéo sự quan tâm của dư luận. Bảy năm sau, ngài Thomas Browne đã xếp dò tìm khoáng sản và mạch nước ngầm bằng cảm xạ là 1 trò ảo thuật trong cuốn “Pseudodoxia Epidemica” (Những trò ảo thuật). Mặc dù có những quy tắc nhất định trong việc sử dụng đũa để xác định các quặng mỏ và mạch nước ngầm thế nhưng cho đến tận cuối thế kỉ 17, những người dò tìm quặng mỏ và mạch nước ngầm bằng đũa vẫn bị quy kết là thực hiện ma thuật.

Dần dần, người ta đã có cái nhìn thiện cảm hơn về cảm xạ một phần là do khả năng đặc biệt của một thanh niên người Pháp tên Jacques Aymar. Trong 10 năm, báo chí Pháp đăng tải rất nhiều những câu chuyện lạ lùng về tài năng của anh. Anh trở nên nổi tiếng ở trong vùng với khả năng lần ra dấu vết tội phạm. Tuy nhiên, phải đến năm 1692 ở tuổi 20 anh mới thực sự nổi tiếng ở châu Âu. Năm đó anh đã thành công trong việc xác định nơi ẩn náu của một trong những kẻ giết hại vợ chồng thương gia chuyên buôn bán rượu. Kẻ giết người đã rất tinh vi, hắn không để lại dấu vết gì tại hầm rượu nơi hắn thực hiện tội ác. Cuối cùng, viên cảnh sát trưởng đã tìm đến Amyar, khi đó rất nổi tiếng với khả năng tìm kiếm tội phạm. Tại hầm rượu nơi xảy ra án mạng, Amyar dùng đũa chữ Y và đã cho cảnh sát biết chính xác nơi những kẻ phạm tội đang ẩn náu. Sau đó, anh xuống đường đi tới nơi chúng đang ở với một đám đông hiếu kỳ theo sau. Và thật không may là trên đường đi anh gặp một cổng thành bị đóng vào ban đêm, vì vậy mà hành trình truy tìm tội phạm của anh phải hoãn lại đến sáng hôm sau.

Sáng hôm sau, Amyar và 3 cảnh sát men theo một bờ sông tới chòi canh của người làm vườn, trong nhà có một chai rượu không. Chiếc đũa của Amyar có phản ứng rất mạnh với chai rượu này và cả với chiếc bàn cùng 3 chiếc ghế cạnh đó. Amyar khẳng định với cảnh sát rằng họ đã đến đây sau 3 tên tội phạm và chúng đã ở đây một thời khá lâu, đủ để uống hết chai rượu. Cuộc truy đuổi của Amyar tới chòi canh đã được hai đứa con nhỏ của người làm vườn xác nhận.

Amyar và cảnh sát tiếp tục cuộc truy tìm. Và rồi chiếc đũa dẫn họ tới 1 nhà tù ở thị trấn Beaucaire. 13 tù nhân mới bị bắt được yêu cầu xếp hàng để Amyar lại gần từng người và chiếc đũa của anh đã có phản ứng với một người trong số đó. Người này bị gù và vừa mới bị bắt 1 giờ trước đó. Amyar nói rằng tên này là nhân vật thứ yếu trong số những kẻ đã sát hại vợ chồng thương gia.

Ban đầu hắn từ chối không cung cấp thông tin về vụ án mạng. Nhưng sau khi bị nhận diện khi trên đường trở về Lyon thì hắn đã suy sụp tinh thần và đã nhận tội. Thực chất hắn được 2 kẻ giết người thuê để giúp bọn chúng vận chuyển vàng bạc mà chúng lấy cắp được từ vợ chồng thương nhân mà chúng đã sát hại.

Viên cảnh sát trưởng rất hài lòng và giao cho Amyar nhiệm vụ truy tìm hai hung thủ thực sự còn đang lẩn trốn ngoài vòng pháp luật. Cùng với một số tay súng, Amyar kết thúc cuộc truy lùng bọn tội phạm tại bến tàu Toulon, anh đã chậm chân hơn chúng 1 ngày. Bọn chúng đã lên tàu đi Genoa, Italy từ hôm trước. Amyar đã trở thành một vị anh hùng. Nhưng nhiều người lo lắng rằng nếu chỉ dùng một chiếc đũa để xác định một người có tội hay không là không công bằng.

Một vài cuốn sách đã được viết ra với tranh luận rằng liệu cảm xạ có liên hệ gì với quỷ dữ hay không. Thậm chí viên cảnh sát trưởng còn viết một cuốn sách về những chiến công của Amyar với tên gọi “Một chiến công tuyệt vời, với cây gậy dò tìm trên tay, sau 45 giờ tội phạm đã phải lộ diện”. Trong một thời gian ngắn, dùng đũa để xác định tội phạm đã trở thành một phương pháp truy tìm tội phạm phổ biến. Thế nhưng, phương pháp này còn khiến người ta nghi ngờ về tính xác thực của nó vì vậy năm 1701, tòa án Pháp đã ra văn bản chính thức cấm sử dụng phương pháp này trong việc xác định kẻ phạm tội.

Trong suốt thế kỷ 18, cảm xạ đã âm thầm phát triển ở nhiều nước. Những người thiết lập chế độ thực dân ở Mỹ đã ứng dụng cảm xạ trong việc đi tìm vùng đất di cư mới khi họ mở rộng vùng đất của mình vào sâu trong lục địa. Năm 1725, Abbé de Vallernont đã cho xuất bản cuốn sách “Những điều huyền bí từ cây đũa đầy ma thuật”. Ông là giáo sĩ hàng đầu trong việc lên tiếng chống lại các học thuyết liên quan đến ma quỷ và quỷ Satan. Cuốn sách tổng hợp các phương pháp cảm xạ được dùng phổ biến lúc bấy giờ. Ông cho rằng cảm xạ hoạt động dựa trên nguyên tắc trao đổi năng lượng vô hình từ nhà cảm xạ và từ vật đang được tìm kiếm đến chiếc đũa. Để làm rõ hơn luận điểm của mình, ông đưa vào cuốn sách hình minh họa có khói bốc lên từ mặt đất tại nơi một nhà cảm xạ đang đứng với chiếc đũa được làm từ cây phỉ trên tay để ám chỉ rằng có sự trao đổi năng lượng ở đây.

Thomas de Quincey lên tiếng ủng hộ cảm xạ trong cuốn sách “The Confessions of an English Opium-eater” (Những lời thú nhận của một người Anh nghiện ma túy) của ông xuất bản năm 1822. Ông viết:

Quận Somerset là nơi thiếu nước nhất ở nước Anh, tìm ra nơi đào được giếng là rất khó. Vì vậy giải pháp đưa ra là mời những nhà cảm xạ trong vùng đến nhờ họ xác định vị trí có khả năng có nước. Những người này cầm chiếc đũa làm từ cây liễu di chuyển qua từng nhà, nơi nào đũa chúc xuống hay nghiêng về một phía là nơi đó có nước. Bản thân tôi đã được tận mắt thấy quá trình người ta tìm kiếm như thế nào để xác định được đúng vị trí có nước và hơn thế nữa tôi còn được chứng kiến những khó khăn to lớn mà họ vấp phải, sự trì hoãn, những chi phí mà họ phải bỏ ra, họ từ chối những nguồn lợi mà họ có thể có được từ môn nghệ thuật này”.

Tuy nhiên đến tận đầu thế kỷ 19, người ta vẫn rất hạn chế trong việc nhờ đến các nhà cảm xạ trong việc dò tìm khoáng sản và nước, mặc dù nếu không nhờ thì họ sẽ mất nhiều chi phí hơn và dù đa số những nhà cảm xạ này làm việc với phương châm: “Không thấy nước, không trả tiền”. Người ta cũng nhận thấy đa số những nhà cảm xạ làm việc dựa trên uy tín và tiếng tăm của mình, cũng có những người thu nhận học trò và dạy họ các kỹ năng thực hiện.

Dư Quang Châu