Sự tiến hóa từ NL Sinh học đến NL Cảm xạ

1371 lượt xem

Sự tiến hóa từ NL Sinh học đến NL Cảm xạ

(DQC) Năng lượng Sinh học được biết đến, được con người chế ngự và ứng dụng từ hàng nghìn năm về trước.
Nền văn minh Ai Cập đã tiết lộ về Năng lượng Sinh học qua nhiều tư liệu viết, hình vẽ và nhất là qua việc sử dụng một cách lạ kỳ các sóng hình dạng và Kim tự tháp. Còn phương Đông chúng ta thì sử dụng quẻ Dịch để điều chỉnh sự mất cân bằng của cơ thể cũng như nhà cửa (ứng dụng trong Cảm xạ học Việt Nam).
Kinh Thánh đã xác nhận tri thức này được lưu truyền qua nhiều thế kỷ, nhưng đến thời Trung Cổ người ta đã cố ý làm lẫn lộn nó với việc thực hành ma thuật và các trò phù thủy.
Đúng là kết quả của một tác động bằng Năng lượng Sinh học, dù nhiều hay ít vẫn có thể mang dáng vẻ một phép lạ. Ở thời đại đó, mọi phép lạ chỉ có thể là sản phẩm của Thượng Đế, của một vị Thánh, hoặc chí ít ra cũng là của một vị tu sĩ nhà dòng. Thiên Chúa giáo hùng mạnh không thể để cho uy danh và quyền lực của mình suy giảm khi bằng một tác động Năng lượng Sinh học – một hành động không giải thích được của một kẻ ngoại đạo lại chữa lành bệnh tật thì cái điều kỳ lạ đó nếu không phải là của Thượng Đế .
Thầy trị bệnh bằng Năng lượng Sinh học bị tố cáo đã liên kết với Quỹ dữ và sẽ bị Tòa án Giáo hội thiêu sống. Hàng nghìn con người tốt bụng đã điều trị cho con người và gia súc đều bị chết trên giàn hỏa thiêu do quan niệm chủ quan của các thầy dòng tự cho mình là người thừa kế của Chúa – Người đã phán bảo Hãy yêu thương lẫn nhau !

Dr Mesmer chữa bệnh bằng NL Sinh học

thì chỉ có thể là sản phẩm của Quỹ dữ
Phải đến nửa sau của thế kỷ XVIII, Năng lượng Sinh học mới được bác sĩ Mesmer tôn vinh !
MESMER VỚI CÁI CHẬU GỖ NỔI TIẾNG
Franz Anton Mesmer sinh ngày 23 tháng 05 năm 1734 tại một làng nhỏ ven hồ Constance.
Thời niên thiếu, ông đi học khá thất thường, thích trốn học đi lang thang, đầu óc nhận xét sâu sắc được phát triển. Năm 16 tuổi ông được nhận vào trường dòng Tên Dolinger học môn thần học. Năm 1759, ông nhận bằng Tiến sĩ thần học và đến năm 1766 bằng bác sĩ y khoa.
Ông có nhận xét khi ông đến gần một nhà phẫu thuật đang mổ cho một người

Dr. Franz Anton Mesmer (1734-1815)

bệnh thì máu của bệnh nhân chảy chậm lại, sau đó chảy nhanh như cũ, khi ông rời xa người đó. Ông cho là mình có khả năng tiềm ẩn giống như ông lang.
Là một học giả uyên thâm, ông thường bí mật nghiên cứu các môn khoa học thường bị cấm: chiêm tinh học, thuật luyện đơn, thuật huyền bí và vật lý học.
Đầu tiên, ông mở phòng mạch ở Vienne, tại đó ông tham dự đầy đủ hoạt động của nhà hát Opéra và các buổi hòa nhạc. Âm nhạc chiếm vị trí lớn trong cuộc đời của ông, ông có tài chơi đàn clavecin và violoncelle. Ông ở trong ngôi nhà sang trọng gần sông Danube và tạo một sân khấu ngoài trời trong vườn của mình. Mozart thường đến chơi đàn, tình bạn của họ được thắt chặt khi cả hai cùng tham gia Hội Tam Điểm.
Đến năm 1772, Mesmer bắt đầu áp dụng việc chữa bệnh bằng Năng lượng Sinh học. Những nghiên cứu của ông hỗn hợp thuyết lực hấp dẫn của Newton với thuyết của Paracelse về các mối liên hệ và ảnh hưởng của nam châm (tức NLSH) đến vũ trụ và thế giới bên trong của con người. Ông bắt đầu ứng dụng Năng lượng Sinh học để chữa chứng cuồng loạn (hystérie) đúng như công việc mà giáo sư Charcot tiến hành sau này tại Paris vào năm 1880 đối với những con bệnh mắc chứng cuồng loạn.

thùng gỗ của Dr Mesmer

Năm sau,1773, ông phát hiện xúc giác, tức là sự sờ mó của bàn tay tạo ra được những hiệu ứng còn quan trọng hơn, và ông thực hiện ca chữa bệnh đầu tiên của ông trên một nữ bệnh nhân 29 tuổi có tên Œsteline.
Ông khẳng định đã phát hiện được một sự hiện hữu của một nhân tố khoa học mới mà ông gọi là từ tính động vật để phân biệt nó đối với điện và từ tính khoáng vật mà ông cho là gần nhau nhưng khác nhau.
Cái mà Mesmer gọi là Chất lỏng (từ điển Pháp Việt Lê Khả Kế dịch là “ảnh hưởng huyền bí“. Ngôn từ hiện đại là “Năng lượng Sinh học” là một hiện thực được phân bố trên khắp vũ trụ có tính chất vừa vật lý học vừa siêu hình học. Ông nghĩ rằng sự thiếu nó hoặc phân bố nó không đúng có thể sinh ra những rối loạn về bệnh tật.
Khi người ta yêu cầu ông định nghĩa : “từ tính động vật là gì?” Mesmer cho đó là giác quan thứ sáu và phát biểu như sau : “Các giác quan không tự định nghĩa cũng như không tự mô tả được, chúng chỉ tự cảm nhận. Sẽ vô ích khi giải thích cho một người mù màu bẩm sinh lý thuyết về ánh sáng. Phải “trông thấy” màu, tức là phải cảm nhận chúng. Đối với từ tính động vật (tức Năng lượng Sinh học) cũng như vậy. Nó phải truyền bá trước tiên bằng cảm nhận, chỉ có cảm nhận mới làm cho hiểu được lý thuyết về màu.”
Tại Paris, Mesmer đã sử dụng “cái chậu nổi tiếng của mình”, ông nạp vào đó một năng lượng sinh học có thể tạo ra một bệnh biến (crise) và chữa khỏi cơn bệnh. Kết quả đến nhanh và cả vinh quang nữa, kéo theo phản ứng của các giới khoa học và bác sĩ. Vả lại Mesmer cũng thường mạnh mẽ phản đối những người cho việc chữa bệnh của ông là do các nguyên nhân siêu nhiên, bằng cách nhắc lại rằng việc chữa khỏi bệnh là do các nhân tố vật lý và sự chuẩn bị về tinh thần cho người bệnh.
Tâm lý liệu pháp cho cá nhân hay cho một nhóm của ông báo hiệu trước sự ra đời môn học phân tích tâm lý (phân tâm học) và những phát hiện tương lai của Freud. Chống đối của các quan chức khoa học càng lúc càng gia tăng. Các nhà khoa học này, phần lớn đã cao tuổi, không còn khả năng để tự học. Hiện tượng là có thật, đó là điều không thể chối cãi, nhưng để giải thích bằng lý lẽ thì khoa học chính thống không làm nổi, phải xây dựng một nền vật lý mới. Cách đặt vấn đề lại như thế, dù ở thời đại nào, cũng gây lo ngại cho những ai muốn giữ cái ghế, cái danh vọng và quyền lợi của mình.

Dr. Hahnemann

Đi tiên phong trong nhiều lĩnh vực, Mesmer đã gợi ý cho các công trình của Hahnemann – người sống cùng thời với ông – phát minh ra Vi lượng đồng căn trị liệu pháp (homéopathie). Một thời đại giàu phát minh, và chúng thường là tiếng vang của một tri thức rất cổ xưa.
Trước tiên, các công trình của Hahnemann được coi như là sự kế tục công trình nghiên cứu của vị thầy thuốc lớn thời Phục hưng. Paracelse, Hahnemann đòi hỏi cách chế biến vi lượng đồng căn phải: “muốn cho hiệu lực chữa bệnh càng mạnh thì cách chế biến thuốc càng phải tinh tế”. Từ đó nhiều cuộc nghiên cứu về khả năng của học thuyết Hahnemann được triển khai như nghiên cứu Kinh Thánh, Kinh Do Thái, Pháp truyền kinh Do Thái, Thiên Văn, Thuật luyện đơn v…v… tất cả những gì đã tạo thành kiến thức của Paracelse.
Không nên quên rằng mãi cho đến năm 1985, các nhà chức trách của ngành y học mới công nhận hiệu quả của vi lượng đồng căn trị liệu pháp với sự thú nhận rằng chưa thể giải thích được cơ chế của phép trị liệu này. Một sự thú nhận kỳ lạ đi ngược lại với mọi nguyên lý của khoa học hiện đại.
Nhưng vì có nhu cầu lớn của công chúng và vì vi lượng đồng căn trị liệu pháp có vai trò quan trọng lớn về kinh tế trong công nghiệp sản xuất thuốc nên khó lòng làm ngơ được!
Thú nhận này sau đó đã kéo theo cuộc tranh luận lớn trong giới khoa học về khả năng trí nhớ của nước, điều mà các nhà tri thức cổ xưa đã xác nhận từ lâu rồi.

Bộ nhớ của nước (Dr. Hahnemann)

Mesmer biết tất cả “các nguồn tin này“. Năm 1779, trong luận án bác sĩ y khoa của mình, Halnemann khuyên nên dùng “từ tính động vật” (tức Năng lượng Sinh học) và phương pháp chữa bệnh của Mesmer (tức chữa bệnh bằng NLSH) để trị bệnh đau răng.
Năm 1805, ông đặt song song lý thuyết “từ tính động vật” với thuyết sẽ ra đời của ông, sau này trở thành vi lượng đồng căn trị liệu pháp bằng cách nhấn mạnh cả hai đều là những nhân tố giống nhau. Hiệu quả của chúng sở dĩ có được là từ sự nhạy cảm của người bệnh, sự nhạy cảm mà một cơ thể khỏe mạnh không có được.
Những nhận xét này làm cho nhiều thầy thuốc thế kỷ XIX khẳng định bằng phương pháp chữa bệnh bằng Năng lượng Sinh học là một bộ phận của trị liệu pháp vi lượng đồng căn. Các nhà huyền bí học của thời đại đó xa hơn và cho rằng cả hai ông Mesmer và Hahnemann đều hoạt động cho sự tồn vinh của đấng Kiến Trúc của Vũ Trụ.
Mesmer là một nhà đồng cốt (médium) thực sự và tuyệt đối tin tưởng vào các hiện tượng thấu thị, đầy bí ẩn, nhất là khi ông phát biểu rằng trong một số học thuyết của ông về “sự hài hòa của vũ (harmonie universelle) là một bí mật và không thể tiết lộ. Vậy điều bí mật của Mesmer là ở đâu? Ở y học, ở huyền học, ở hiện tượng đồng cốt? Chắc chắn phải tìm trong các tuyên bố và các buổi họp kỳ lạ của Mesmer.

Dr. Mesmer và thùng gỗ

trụ”
Mesmer cho rằng yếu tố quan trọng để chữa khỏi cho bệnh nhân là họ phải được chuẩn bị tốt. Mesmer rất giỏi trong việc ‘dàn cảnh”, đòi hỏi bệnh nhân của mình phải tuân theo những quy định về nghi thức thực sự. Một số bệnh nhân đến nhà ông, số 16 phố Venđôme Paris, như đi đến một cuộc biểu diễn.
Trong chiếc áo lụa màu hoa cà, ông tiếp họ trong một phòng rộng mà ánh sáng được làm dịu bớt, ở thời điểm căng thẳng của buổi chữa lại có tiếng nhạc êm ái cất lên. Các bệnh nhân ngồi quanh một cái chậu rất lớn bằng gỗ, hoàn toàn đậy kín. Từ cái chậu đưa ra những sợi dây và thanh sắt, chúng được nối liền với nhau bằng một sợi thừng dài thành vòng tròn, các thanh sắt và sợi dây bé được bó sát vào nhau.
Chính Mesmer đã viết về những thứ chứa trong cái chậu bí mật đó như sau : (ce mystérieux baquet).
“Baquet là một loại chậu hình tròn, vuông hay bầu dục, đường kính tương ứng với số lượng bệnh nhân mà tôi định chữa trị. Các ván cong dày để đóng thành thùng được ghép lại, sơn và gắn chặt sao cho chứa được nước, sâu độ ba tấc (mỗi tấc khoảng 30 cm), phía trên rộng hơn mặt đáy độ hai hay ba tấc, nắp

Dr. Mesmer va chậu gỗ

bằng hai miếng gỗ lắp trực tiếp lên mặt thùng và gắn chặt bằng ốc vít. Bên trong xếp các chai thành các đường bán kính hướng tâm của một vành tròn (như những nan hoa của bánh xe). Bên ngoài xếp các chai cùng một chiều cao theo đường vành tròn, chân của chai được đặt trên đáy chậu, giữa các chai có một khoảng cách để đút cái cổ chai của một chai khác. Khi xếp xong hàng chai thứ nhất này, cần đặt giữa chậu một cái chai để đứng hoặc nằm từ đó xếp các nan hoa được tạo thành bởi các chai nhỏ (demi bonteille) rồi đến các chai lớn. Nếu điều kiện cho phép, xếp theo cách sau: chôn cổ chai thứ nhất vốn đã được đặt giữa chậu, để cổ chai này ở giữa chai tiếp theo , sao cho cổ của chai cuối cùng chạm vào vành tròn. Các chai phải đựng đầy nước và được nạp năng lượng sinh học cùng một thể thức và tốt nhất là do cùng một người nạp. Để tăng sức hoạt động của chậu, ta có thể để một lớp chai thứ hai, thứ ba trên lớp thứ nhất, nhưng thông thường ta thiết lập lớp thứ hai bằng cách đi từ tâm rồi bao trùm 1/3 , 1/2 và 3/4 lớp thứ nhất. Sau đó ta đổ nước đầy chậu ở một độ cao nào đấy, thường cho ngập tất cả các chai. Ta có thể thêm mạt sắt, mạt thuỷ tinh hay các vật thể khác tương tự”.
Với vẻ trịnh trọng, một phụ tá của Mesmer tới gần chậu, dùng một chiếc đũa bằng sắt đụng vào cái chậu. Rồi với chiếc đũa đó, ông ta chạm nhẹ vào người bệnh để nạp năng lượng cho họ tùy theo bệnh trạng từng người. Trong quá trình chữa bệnh hoặc nghi thức này, âm nhạc mỗi lúc mạnh thêm giúp cho việc nạp năng lượng tốt hơn cho họ tùy theo bệnh trạng từng người.
Bằng cái chậu gỗ, bằng cách tác động năng lượng sinh học qua bàn tay và bằng tâm lý liệu pháp của mình, Mesmer đã chữa lành bệnh một cách kì diệu cho những người được trải nghiệm phương pháp của ông ta thường là các nhà quý tộc danh tiếng và các nhà bác học. Trước sự liên kết của các bác sĩ và bác học chống lại ông và trước những biến cố cách mạng làm đảo lộn xã hội Pháp, Mesmer bị thất sủng, lui về ẩn dật tại quê nhà, bên hồ Constance. Năm 1812, Hoàng đế nước Phổ mời ông giảng dạy tại Đại học Y khoa Berlin. Lúc đó đã 78 tuổi, ông từ chối để dành thời gian chăm sóc sức khoẻ mà không lấy tiền cho cư dân vùng ông sinh sống. Ông uỷ nhiệm cho một học trò của mình thay ông ở vị trí làm khoa học này mà kết quả được công nhận ngay cả bởi các người đã chống lại ông.
” Từ tính động vật “ hay Năng lượng Sinh học đã bước lên sân khấu Khoa học và Y học một cách đầy ấn tượng như thế . Mesmer đã hoàn thành sự nghiệp của mình . Bức màn được nhẹ nhàng buông xuống trên sân khấu của cuộc đời ông. Mesmer trút hơi thở cuối cùng vào tháng 3 năm 1815, lúc đang nghe một khúc nhạc của Mozart và Gluk vang lên từ đàn harmonica với sự tin tưởng tuyệt đối vào học thuyết của mình.
Học thuyết mà ông đã viết và công bố đề tài năm 1779 dưới nhan đề “Sự phát minh từ tính động vật ”
Bác sĩ Dư Quang Châu