VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ NĂNG LƯỢNG CẢM XẠ HỌC

214 lượt xem

TRUY TÌM TỘI PHẠM
Năm 1688 ở Grenoble xảy ra một vụ trộm. Viên chưởng lý nhờ đến Jacques Aymar là một nông dân 30 tuổi ở vùng Dauphiné nổi tiếng tài giỏi về tìm nước ngầm. Anh này cầm chiếc đũa và dò tìm. Lần theo hướng dò tìm của chiếc đũa, anh qua phố này, phố nọ tới nhà tù rồi một xà lim đang giam bốn người.
– Trước mặt người thứ nhất chiếc đũa đứng yên.
– Người thứ hai: đũa rung mạnh, nhưng hắn thề không phải thủ phạm.
– Người thứ ba: đũa không phản ứng.
– Người thứ tư: đũa rung rất mạnh; tên này run như cầy sấy, thú nhận là thủ phạm rồi khui ra tên thứ hai đồng phạm và những tên chứa chấp của ăn trộm. Bọn này chối, nhưng cuối cùng chiếc đũa lại chỉ ra bọn chúng, nhờ đó mà thu hồi được của cải.
Ít lâu sau, trong một lần tìm nước ngầm với chiếc đũa, Jacques Aymar phát hiện xác một thiếu phụ trong một thùng tônnô chôn dưới đất. Người này đã biến mất vài tháng trước đây mà không ai tìm được vết tích. Nhà chức trách đưa Aymar đến nhà nạn nhân. Mọi người trong nhà đều được kiểm tra bằng đũa không thấy gì, đến lượt người chồng thì đũa rung rất mạnh, tên này định bỏ chạy nhưng thế là đã tự buộc tội mình.
Chuyện sau đây còn làm Aymar lừng danh hơn nữa. Năm 1692 ở thành phố Lyon xác vợ chồng một người buôn rượu bị giết bằng dao quắm được thấy trong hầm nhà họ ở. Cuộc điều tra không đem lại điều gì. Người ta nhớ đến Aymar – Anh này cầm chiếc đũa để dò tìm từ nơi án mạng. Theo chỉ dẫn của đũa, anh theo các phố xá, cầu sông … qua nhiều thành phố, cuối cùng đến Beauccaire và rẽ đám đông đi thẳng vào nhà tù.
Ở đây anh cảm thấy đũa rung động dữ dội và chỉ ra một xà lim trong có một tên gù lưng vừa bị bắt chính hôm đó vì ăn cắp bánh mì. Tên này thú nhận đã giết vợ chồng người buôn rượu. Vụ án được sáng tỏ chỉ sau 45 ngày!
Sự kiện Lyon làm mọi người chú ý đến khả năng kỳ diệu của cây đũa. Người ta mở rộng áp dụng của nó sang lãnh vực công an. Các nhà bác học đua nhau tìm cách giải thích hiện tượng lạ kỳ của chiếc đũa.
Năm 1693 tu viện trưởng Vallemont lần đầu tiên làm nổi bật lợi ích của chiếc đũa trong việc xác định bọn trộm cắp và tội phạm trong cuốn sách “Vật lý học huyền bí hay chuyên luận về chiếc đũa bói toán”. Sách có tiếng vang rất lớn. Lập tức cha Lebrun viết sách phản đối cho rằng có chuyện ma quỹ. Tòa án xử dị giáo(Inquisition) cho điều tra rồi ra quyết định cấm sách của tu viện trưởng (1701) và rút phép thông công của những người dùng chiềc đũa bói toán. Tuy vậy sách này vẫn hai lần tái bản vào năm 1702 và năm 1722.
Từ năm 1730, nhà vật lý học Anh Stephen Gray đã phát hiện rằng những khối nhiễm điện có thể hút một số vật thể được treo vào một sợi dây.
Năm 1792 giáo sư y học Antoine Gerboin mang về Pháp những quả lắc người Ấn Độ vẫn dùng tìm nước ngầm. Ông làm nhiều thí nghiệm về quả lắc quay và cho rằng “trong con người có lẽ có một lực đặc biệt” (1808).
Còn ông Wheler thì cho rằng sự mong muốn tạo nên một chuyển động nào đó là nguyên nhân chính gây nên các chuyển động của quả lắc.
Quả lắc dùng tiện hơn chiếc đũa và trở nên dụng cụ thường dùng của những người dò tìm nguồn nước ngầm.
Vào thế kỷ 19 nhà hóa học Chevreul được Viện Hàn Lâm khoa học Pháp ủy thác cho việc kiểm chứng vấn đề nói trên. Ông cho rằng phản ứng của chiếc đũa và quả lắc chẳng qua là do chuyển động không có ý thức của người sử dụng gây ra và vì thế, ông không quan tâm đến lĩnh vực này nữa. Nhưng một số nhà nghiên cứu khác, trong đó có Briche, không thỏa mãn với lối giải thích của Chevreul.
Họ cố gắng đi sâu vào những nguyên nhân gây ra các chuyển động quay hoặc dao động của chiếc đũa và quả lắc. Song họ không thành công và các câu hỏi vẫn chưa có được giải đáp.
Vào năm 1808, Antoine Gerboin, với lý thuyết Một lực đặc biệt tồn tại trong con người đã soạn thảo một phương pháp tìm kiếm. Vào thời điểm này, quả lắc đã thay thế que đũa vì tiện dùng hơn.
Hội nghị những người tìm mạch nước họp lần đầu tiên năm 1511 ở Hanovre.
Bác sĩ Paul Beyer kho báu bằng chiếc đũa năm 1913 thành lập ở Đức hình chữ Y Hội liên hiệp quốc tế các nhà tìm nước ngầm. Cũng năm 1913 ở Paris diễn ra Hội nghị quốc tế tâm lý học thực nghiệm, có mục đích đánh giá công việc của các nhà Cảm-xạ học trên một số vấn đề cụ thể:
• Tìm ra các khoang ngầm trong lòng đất, xem ở trong có nước hay không?
• Tìm các kim loại và cho biết trước là kim loại gì.
• Tìm các mạch nước ngầm và cho biết độ sâu, chiều rộng và hướng đi.
Có 20 nhà tìm mạch nước tham gia, do ông Armand Viré chỉ đạo. Ông này là giám đốc Phòng xét nghiệm Sinh học về tầng đất sâu thuộc Viện bảo tàng tự nhiên học Paris. Nhìn chung, kết quả tuyệt hảo làm say mê ông Viré, nhà thông thái hay hoài nghi.
Cảm xạ đã sử dụng ngày một nhiều hơn những ngôn ngữ khoa học: bức xạ, hào quang, sóng hình dạng, âm vang, đồng cảm.
Đại chiến thế giới lần thứ nhất đã cho phép những nhà Cảm xạ, đặc biệt Tu viện trưởng Bouly, người sáng lập môn Cảm xạ, chứng minh hiệu quả trong phát hiện những quả đạn pháo không nổ và tìm kiếm những hang rỗng để chứa bom.
Bộ tham mưu tướng Kaisor (Đức) đã sử dụng những nhà Cảm xạ học dùng đũa tìm chọn chỗ đất chắc để đặt các khẩu pháo tầm xa “Bertha lớn’ (trước đó đặt ở nền đất lún thụt không bắn được tới Paris).
Năm 1929, theo đề nghị của M.Léon Delattre: Hiệp hội những người bạn Cảm xạ của Pháp và quốc tế được thành lập. Hiệp hội này hoạt động rất tốt, đều đặn, xuất bản tờ báo có giá trị. Mười năm sau, Emile Christophe thêm tiếp đầu ngữ télé làm thành từ Téléradiesthésie (Cảm xạ từ xa).
MỘT SỐ NHÀ CẢM XẠ NỔI TIẾNG Ở THẾ KỶ 20
– Tu viện trưởng Bouly (1865-1958) cha đẻ của Cảmxạ học, từ Cảm-xạ(Radiesthésie) chính do ông đặt ra.
– Tu viện trưởng Mermet (1866-1937) ông hoàng của những nhà tìm mạch nước ngầm.
– Henry de France (1872-1947) nhà quý tộc Cảm-xạ học.
– Joseph Treyve (1877-1946) chuyên trồng hoa và tìm nguồn nước.
BS Dư Quang Châu
Chủ tịch Chi hội Giáo dục Chăm sóc Sức khỏe Cộng đồng TCLT
Viện trưởng Viện Bấm huyệt TCLT
(Còn tiếp)
Jacques Aymar (người truy tìm tội phạm)